Tại phiên thảo luận, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh đã phát biểu giải trình, làm rõ nhiều vấn đề trọng tâm do các đại biểu Quốc hội nêu.
Vận hành an toàn tuyến đường Hồ Chí Minh
Thảo luận tại hội trường, đại biểu Lý Anh Thư (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh An Giang) khẳng định, đường Hồ Chí Minh là công trình có ý nghĩa lịch sử, chính trị sâu sắc, đáp ứng niềm mong mỏi của nhân dân khu vực tuyến đường đi qua. Dẫn báo cáo của Chính phủ, đại biểu chỉ ra đoạn Chơn Thành – Đức Hòa đạt 97% tiến độ, dự kiến hoàn thành cuối năm 2026; các đoạn Rạch Sỏi – Bến Nhất và Gò Quao – Vĩnh Thuận dự kiến hoàn thành khoảng 42/55 km vào cuối năm, còn 13 km dự kiến hoàn thành trong quý I/2027. Nhấn mạnh việc cần phân biệt rõ giữa "thông xe kỹ thuật" với hoàn thành công trình đủ điều kiện khai thác an toàn, đại biểu đề nghị Chính phủ giữ đúng cam kết hoàn thành các đoạn còn lại trong quý I/2027, gia cố các đoạn xuống cấp để đưa vào khai thác an toàn trước ngày 30/4/2027; đồng thời nêu rõ nếu chưa thông tuyến và chưa bảo đảm an toàn trước mốc thời gian này thì chưa nên xem xét chính thức kết thúc thực hiện các mục tiêu đề ra tại hai nghị quyết của Quốc hội.
Giải trình làm rõ nội dung này, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh nhấn mạnh, việc kết thúc quy mô hai làn xe chính thức khép lại giai đoạn phân kỳ đầu tư đề nghị tại Nghị quyết số 38/2004/NQ-QH11 và Nghị quyết số 66/2013/QH13 của Quốc hội, nhằm nối thông toàn tuyến đường Hồ Chí Minh từ Pác Bó đến Đất Mũi với quy mô 2 làn xe, làm cơ sở chuyển sang giai đoạn đầu tư mới phù hợp với quy hoạch.
Bộ trưởng chỉ rõ, việc kết thúc giai đoạn đầu tư quy mô hai làn xe không đồng nghĩa với việc toàn bộ dự án đã hoàn thành, bởi theo Quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, đường Hồ Chí Minh tiếp tục là trục giao thông huyết mạch và phải tiếp tục đầu tư nâng cấp lên thành đường cao tốc. Một dự án được coi là hoàn thành khi kết thúc tất cả các công việc của dự án khi thi công, nghiệm thu, đưa vào khai thác sử dụng và được cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết toán.
Do đó, Bộ trưởng cho rằng, việc Quốc hội ban hành nghị quyết kết thúc việc thực hiện Nghị quyết số 38/2004/NQ-QH11 và Nghị quyết số 66/2013/QH13 nhằm đánh giá tổng kết mốc hoàn thành mục tiêu cơ bản nối thông toàn tuyến đường Hồ Chí Minh với 2 làn xe và chuyển sang giai đoạn đầu tư mới.
Cập nhật về tiến độ, Bộ trưởng cho biết, đường Hồ Chí Minh có tổng độ dài 2.656,5 km, đến nay đã hoàn thành 2.499 km, dự kiến đến hết tháng 12/2026 sẽ hoàn thành 2.643 km và 13 km còn lại thuộc đoạn Gò Quao – Vĩnh Thuận sẽ hoàn thành trong quý I/2027. Về công tác quyết toán, giai đoạn một đã hoàn tất từ năm 2016, giai đoạn hai hiện đạt 89% và dự kiến sẽ hoàn thành toàn bộ trong giai đoạn tới.
Tháo gỡ bất cập các dự án BOT
Phản ánh thực trạng dự án BOT, đại biểu Nguyễn Thị Thu Nguyệt (Đắk Lắk) ghi nhận những đóng góp của dự án đường Hồ Chí Minh sau 20 năm triển khai, đồng thời chỉ ra vướng mắc tại trạm thu phí BOT đoạn Km 1738 đến Km 1763 (Km 1747 Quốc lộ 14 qua Đắk Lắk) do Công ty BOT Quang Đức thực hiện. Sau khi tuyến tránh phía Tây Buôn Hồ đưa vào khai thác, lưu lượng phương tiện qua trạm sụt giảm chỉ còn 35-45% so với phương án ban đầu, người dân lưu thông hằng ngày nhưng chưa được thực hiện chính sách miễn, giảm phí như cam kết, gây bức xúc dư luận. Đại biểu đề nghị khẩn trương rà soát toàn diện tính pháp lý, phương án tài chính, vị trí trạm thu phí và sớm áp dụng chính sách miễn, giảm phí cho người dân.
Phản hồi trực tiếp ý kiến đại biểu, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết trên toàn tuyến đường Hồ Chí Minh hiện có 6 dự án BOT, trong đó có 3 dự án tiềm ẩn nguy cơ sụt giảm doanh thu, bao gồm đoạn từ Km 1738 đến Km 1763 qua Đắk Lắk do Công ty BOT Quang Đức thực hiện. Nguyên nhân được xác định là do sự xuất hiện của tuyến đường Hồ Chí Minh song song cùng các tuyến đường nhánh của địa phương đi qua đây. Về phương án xử lý, Bộ trưởng nêu rõ căn cứ Nghị định số 122/2026/NĐ-CP của Chính phủ, Bộ Xây dựng sẽ phối hợp chặt chẽ với nhà đầu tư, UBND tỉnh Đắk Lắk và Kiểm toán Nhà nước xác định chính xác giá trị sụt giảm doanh thu, trên cơ sở đó thực hiện cơ chế hỗ trợ, chia sẻ từ nguồn ngân sách nhà nước theo đúng quy định, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.
Mở rộng kết nối hạ tầng giao thông vùng và đường sắt liên vùng
Liên quan đến kiến nghị của đại biểu Lý Anh Thư về việc đầu tư cầu Tân Châu – Hồng Ngự và cao tốc Hà Tiên – Rạch Giá – Bạc Liêu, Bộ trưởng Trần Hồng Minh thông tin cầu Tân Châu – Hồng Ngự trên Quốc lộ N1 đã được phân cấp cho UBND tỉnh An Giang làm cơ quan chủ quản trực tiếp đầu tư. Tuyến cao tốc Hà Tiên – Rạch Giá – Bạc Liêu (CT35) có quy mô 4 làn xe được quy hoạch đầu tư trước năm 2030, dài 194 km, trong đó đoạn Rạch Giá – Hà Tiên dài 98 km với tổng mức đầu tư khoảng 55.000 tỷ đồng hiện đang được Chính phủ nghiên cứu cân đối nguồn lực.
Giải trình về nguồn vật liệu đắp nền ở miền Tây, Bộ trưởng làm rõ nguồn cát biển thực chất là cát hạ lưu sông Tiền và sông Hậu; việc khai thác tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Tuy nhiên, giá thành bị ảnh hưởng do cự ly vận chuyển xa và chi phí rửa mặn.
Đối với đề xuất của đại biểu Hà Sĩ Huân (Thái Nguyên) về nghiên cứu tuyến đường sắt đô thị Hà Nội – Thái Nguyên và các tuyến đường sắt kết nối liên vùng, Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết, các tuyến đường sắt quốc gia như Đông Anh – Quán Triều, Kép - Lưu Xá, Thái Nguyên – Tuyên Quang – Lào Cai đã có trong kế hoạch đầu tư, sửa chữa trước và sau năm 2030. Riêng dự án đường sắt đô thị nối Hà Nội với Thái Nguyên thuộc thẩm quyền của địa phương lập đề án và triển khai xây dựng, tương tự như mô hình đang áp dụng tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.