Đến nay, thành phố Cần Thơ đã xây dựng được hơn 8.000 ha mô hình vùng nguyên liệu chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp.
Bón phân chính xác đến đơn giản hóa thủ tục hành chính
Tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, chi phí vật tư nông nghiệp biến động cùng thực trạng lãng phí phân bón, giống gieo sạ đã và đang đẩy giá thành sản xuất lên cao, làm suy giảm sức khỏe đất và gia tăng phát thải khí nhà kính. Nhằm tháo gỡ khó khăn này, việc áp dụng gói kỹ thuật tích hợp cùng các giải pháp công nghệ số đang tạo ra những chuyển biến tích cực trên cánh đồng.
Điểm nhấn nổi bật trong quản lý dinh dưỡng cây trồng là ứng dụng “Bón phân đúng” (RCM) do Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) phát triển. Ông Nguyễn Quang Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đánh giá, RCM không chỉ là công cụ kỹ thuật mà là bước tiến trong công cuộc chuyển đổi số, giúp người nông dân chủ động quản lý dinh dưỡng dựa trên các khuyến cáo khoa học sát với thực tế từng thửa ruộng, từng mùa vụ. Kết hợp cùng các công nghệ hỗ trợ như cơ giới hóa sạ hàng, vùi phân, quản lý nước rút ngập khô xen kẽ và xử lý rơm rạ, mô hình này giúp giảm tới 30% lượng phân đạm, tiết kiệm lượng giống gieo sạ mà vẫn giữ vững hoặc tăng năng suất lúa.
Thành phố Cần Thơ triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao trên diện tích quy hoạch khoảng 170.000 ha tại 64 xã, phường với sự tham gia của 171 hợp tác xã và tổ hợp tác. Đến nay, địa phương đã xây dựng được hơn 8.000 ha mô hình vùng nguyên liệu chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp.
Bà Nguyễn Thị Giang, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ cho biết, qua triển khai thực tế, các mô hình thí điểm đã cho thấy hiệu quả rất rõ rệt: giảm 40 - 50% lượng giống gieo sạ, giảm trên 30% lượng phân đạm, giảm 2 - 3 lần phun thuốc bảo vệ thực vật và tiết kiệm 30 - 40% lượng nước tưới. Quan trọng hơn, lợi nhuận của nông dân tăng thêm từ 1,3 đến 6,5 triệu đồng/ha, đồng thời giảm lượng phát thải khí nhà kính từ 6 - 12 tấn CO₂/ha so với canh tác truyền thống.
Minh chứng rõ nét cho hiệu quả này là mô hình của hộ ông Nguyễn Văn Dũng, Hợp tác xã Nông nghiệp và Dịch vụ Kiến Thành, xã Vị Thanh 1. Bằng cách sạ thưa giống ST25 với mật độ chỉ 55 kg/ha kết hợp bón phân đúng cách, lúa phát triển khỏe mạnh, hạn chế sâu bệnh, đạt năng suất 1,05 tấn/công (cao hơn khoảng 50 kg/công so với các ruộng sạ dày). Nhờ tối ưu chi phí đầu vào và đảm bảo sản lượng, lợi nhuận thực tế của gia đình ông Dũng đã tăng từ 20% đến 30%.
Song song với việc đổi mới kỹ thuật, công tác nâng cao năng lực cho người dân và cải cách thủ tục hành chính về cấp mã số vùng trồng cũng được ngành nông nghiệp Cần Thơ đẩy mạnh. Từ tháng 9 đến tháng 11/2026, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thành phố tổ chức 62 lớp tập huấn kỹ thuật cho 1.860 nông dân và thành viên hợp tác xã. Các buổi tập huấn tập trung hướng dẫn quy trình canh tác giảm phát thải và phổ biến kiến thức pháp lý về đăng ký, quản lý mã số vùng trồng.
Bà Trần Thị Kim Thúy, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thành phố Cần Thơ cho biết, các quy định pháp lý hiện nay đã được tinh gọn tối đa theo Luật Trồng trọt, Nghị định 38/NĐ-CP và Nghị quyết 36/NQ-CP về đơn giản hóa thủ tục hành chính. Thẩm quyền tiếp nhận và xử lý hồ sơ đăng ký mã số vùng trồng đã được phân cấp về UBND cấp xã, thành phần hồ sơ chỉ còn đơn đề nghị theo quy định. Quy trình thẩm định đối với sản phẩm tiêu thụ nội địa được UBND cấp xã thực hiện và phê duyệt chỉ trong 3 ngày làm việc. Đối với vùng trồng xuất khẩu, UBND cấp xã thẩm định trong 10 ngày trước khi chuyển hồ sơ lên cấp thành phố và Bộ Nông nghiệp và Môi trường xử lý trong các bước tiếp theo.
Chuyển đổi số quản lý dữ liệu và xây dựng chuỗi giá trị lúa gạo bền vững
Cùng với việc chuẩn hóa thủ tục hành chính, Cần Thơ đang thúc đẩy chuyển đổi số quản lý vùng trồng thông qua triển khai ứng dụng công nghệ số ViriCert. Đây là công cụ được lựa chọn để “chấm điểm” và đánh giá mức độ tuân thủ quy trình canh tác lúa chất lượng cao, phát thải thấp nhờ đáp ứng các tiêu chí về giám sát sản xuất, minh chứng dữ liệu và truy xuất nguồn gốc. Hiện Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thành phố đã triển khai thí điểm ViriCert tại 30 hợp tác xã thuộc đề án.
Thông qua ViriCert, dữ liệu sản xuất lúa được số hóa ngay từ khâu khởi tạo. Người nông dân dần chuyển từ ghi chép nhật ký giấy truyền thống sang nhật ký canh tác điện tử. Các hợp tác xã chịu trách nhiệm kiểm tra, tổng hợp và lưu trữ dữ liệu tập trung trên hệ thống. Nhờ đó, cơ quan chuyên môn và chính quyền có thể thực hiện hậu kiểm, quản lý vị trí thửa đất và giám sát việc tuân thủ quy trình hoàn toàn trên môi trường số. Đây cũng là nguồn dữ liệu chuẩn hóa quan trọng phục vụ công tác đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) lượng khí nhà kính giảm phát thải, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp bao tiêu truy xuất nguồn gốc sản phẩm một cách nhanh chóng, minh bạch.
Dưới góc độ khoa học và quản lý, các chuyên gia khẳng định việc bón phân chính xác và số hóa vùng trồng phải được đặt trên nền tảng dữ liệu khoa học về đất. PGS.TS Nguyễn Văn Bộ đề xuất cần có cơ chế hướng dẫn các địa phương thông qua ngân sách đầu tư cho việc phân tích chất lượng đất lúa định kỳ 5 năm một lần (theo Nghị định 112 về đất lúa). Việc nắm rõ "nguồn dự trữ" dinh dưỡng trong đất sẽ giúp nông dân thực hiện hiệu quả nguyên tắc "4 đúng". Ngoài ra, trước thực trạng thị trường có tới 29.000 tên thương phẩm phân bón, việc thắt chặt quản lý quảng cáo và tăng cường pháp chế là rất cần thiết để bảo vệ nông dân trước hàng giả, hàng nhái.
Ở góc độ thị trường, ông Lê Thanh Tùng, Chủ tịch Hiệp hội Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam nhấn mạnh, khi các hợp tác xã tuân thủ nghiêm ngặt quy trình canh tác và có mã số vùng trồng chuẩn hóa, chất lượng và độ an toàn của hạt gạo sẽ được nâng cao. Đây là tiền đề vững chắc để thúc đẩy các bản hợp đồng liên kết bao tiêu dài hạn giữa doanh nghiệp và hợp tác xã, giúp ổn định sản xuất và gia tăng giá trị hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Bà Nguyễn Thị Giang, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Cần Thơ nhận định, việc ứng dụng các công cụ như ViriCert đánh dấu bước chuyển dịch căn bản: chuyển từ quản lý theo kinh nghiệm sang quản lý dựa trên dữ liệu; chuyển từ sản xuất nông nghiệp thuần túy sang kinh tế nông nghiệp; và chuyển từ chú trọng sản lượng sang nâng cao chất lượng, minh bạch và phát triển bền vững.
Thành công của mô hình đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa 7 chủ thể trong hệ sinh thái: Chính quyền địa phương quản lý, hậu kiểm; cơ quan chuyên môn hướng dẫn kỹ thuật; hợp tác xã tổ chức sản xuất; nông dân thực hành; doanh nghiệp bao tiêu tiêu thụ; các viện trường chuyển giao công nghệ; và nền tảng ViriCert làm cầu nối dữ liệu tập trung. Sự đồng bộ này đang tạo đà mạnh mẽ để ngành lúa gạo Cần Thơ và toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long bứt phá, hướng tới mục tiêu 1 triệu ha lúa chất lượng cao và tăng trưởng xanh vào năm 2030.