Châu Á đối mặt rủi ro nguồn cung dầu mỏ từ Trung Đông

Theo báo Le Monde (Pháp) ngày 3/3, việc giao thông hàng hải qua eo biển Hormuz gần như tê liệt do xung đột tại Trung Đông đang đặt các nền kinh tế châu Á trước nguy cơ gián đoạn nghiêm trọng nguồn cung dầu mỏ.
Chú thích ảnh
Giá xăng dầu được niêm yết tại trạm xăng ở Seoul, Hàn Quốc. Ảnh: Yonhap/TTXVN

Châu Á phụ thuộc lớn vào năng lượng nhập khẩu từ khu vực Vùng Vịnh, trong đó Trung Quốc có tới 57% lượng dầu nhập khẩu bằng đường biển đến từ Trung Đông.

Eo biển Hormuz nằm giữa Oman và Iran, nối vịnh Ba Tư ở phía Bắc, vịnh Oman ở phía Nam và xa hơn là biển Arập. Eo biển rộng khoảng 30 km tại điểm hẹp nhất, với luồng tàu mỗi chiều có nơi chỉ khoảng 3 km. Đây là một trong những “yết hầu” chiến lược của thương mại năng lượng toàn cầu. Mỗi ngày, hàng chục tàu chở dầu và khí tự nhiên hóa lỏng đi qua tuyến đường này để cung cấp năng lượng cho các nền kinh tế châu Á - khu vực chiếm hơn một nửa dân số và gần 1/3 tổng sản phẩm toàn cầu.

Tuy nhiên, sau các vụ tấn công nhằm vào tàu thương mại ngày 1 và 2/3, trong đó có ít nhất 4 tàu bị trúng đạn và một thuyền viên thiệt mạng theo thông tin từ giới chức Oman, nhiều hãng vận tải đã tạm dừng hành trình qua eo biển. Một tàu chở dầu khác cũng bốc cháy tại cảng Bahrain. Các lực lượng hải quân quốc tế đang làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh hàng hải tại khu vực này đánh giá mức độ đe dọa hiện ở cấp “nghiêm trọng”, với nguy cơ tấn công được cho là “gần như chắc chắn”.

Công ty phân tích dữ liệu vận tải biển Kpler cho biết trong ngày 2/3 chỉ ghi nhận 1 tàu chở dầu đi qua eo biển Hormuz, so với hàng chục tàu trong điều kiện bình thường. Theo chuyên gia phân tích Xu Muyu của Kpler, nếu tình trạng đình trệ kéo dài, nguồn cung dầu từ Trung Đông sang châu Á sẽ bị xáo trộn đáng kể, kéo theo hệ lụy đối với tăng trưởng kinh tế khu vực.

So với Mỹ - nước xuất khẩu ròng dầu mỏ, và Liên minh châu Âu - đã đa dạng hóa nguồn nhập khẩu từ Na Uy, Mỹ, Kazakhstan và Libya, thì các nền kinh tế châu Á phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn cung từ Saudi Arabia, Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE), Qatar và Iraq. Trung Quốc và Ấn Độ còn nhập khẩu đáng kể từ Nga, song phần lớn vẫn vận chuyển bằng đường biển.

Nhật Bản nhập hơn 90% dầu thô từ Trung Đông, Hàn Quốc hơn 70%, và phần lớn lượng dầu này phải đi qua eo biển Hormuz. Nhật Bản hiện có lượng dự trữ tương đương hơn 8 tháng tiêu thụ, Hàn Quốc khoảng 7 tháng. Tuy nhiên, giá năng lượng tăng, cùng với sự suy yếu của đồng yen và won, có thể khiến chi phí nhập khẩu leo thang, làm gia tăng áp lực lạm phát và đe dọa đà phục hồi kinh tế còn mong manh. Theo Hiệp hội Thương mại Quốc tế Hàn Quốc, nếu giá dầu tăng 10%, tổng chi phí nhập khẩu của nước này có thể tăng thêm 2,68%.

Tại Đông Nam Á, nhiều quốc gia cũng theo dõi sát diễn biến tại eo biển Hormuz. Thái Lan có thể đáp ứng nhu cầu trong khoảng 2 tháng nhờ dự trữ và các lô hàng đang vận chuyển. Hơn 56% dầu thô nhập khẩu của nước này đầu năm 2025 đến từ UAE, Saudi Arabia và Qatar. Malaysia mua 67,1% dầu thô và condensate từ UAE, Saudi Arabia và Oman trong quý III/2025. Singapore - trung tâm lọc hóa dầu của khu vực - có nguồn cung đa dạng hơn, song gần 50% vẫn đến từ Vùng Vịnh. Indonesia nhập khoảng 20% dầu từ Saudi Arabia, phần còn lại từ châu Phi và Australia.

Tâm điểm chú ý hiện nay là Trung Quốc - quốc gia nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới, với khoảng 11 triệu thùng/ngày trong năm 2025. Nền kinh tế lớn thứ hai toàn cầu tiêu thụ khoảng 16 triệu thùng/ngày, trong khi sản lượng nội địa chỉ đạt 4,4 triệu thùng/ngày. Như vậy, Trung Quốc phải nhập khẩu hơn 2/3 nhu cầu, chủ yếu bằng đường biển, và trong số đó 57% đến từ Trung Đông.

Dù Trung Quốc có 3 tuyến đường ống dẫn dầu nối với Nga, Kazakhstan và Myanmar, khối lượng vận chuyển qua các tuyến này vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ so với tổng nhu cầu. Theo ước tính của Kpler, dự trữ chiến lược và thương mại của Trung Quốc hiện đủ đáp ứng nhu cầu trong khoảng 3 tháng và 3 tuần. Nếu khủng hoảng kéo dài, nước này có thể tăng cường nhập khẩu từ Nga, song khả năng bù đắp hoàn toàn là hạn chế.

Sự phụ thuộc lớn vào tuyến vận tải chiến lược như eo biển Hormuz cho thấy các nền kinh tế châu Á vẫn dễ tổn thương trước các biến động địa chính trị tại Trung Đông. Trong bối cảnh xung đột chưa có dấu hiệu hạ nhiệt, rủi ro đối với an ninh năng lượng và ổn định kinh tế của khu vực được dự báo sẽ tiếp tục gia tăng.

Hữu Chiến - PV TTXVN tại Pháp

Dành cho bạn

TP Hồ Chí Minh quảng bá Diễn đàn Kinh tế mùa Thu tại Seoul

TP Hồ Chí Minh quảng bá Diễn đàn Kinh tế mùa Thu tại Seoul

TP Hồ Chí Minh đã triển khai quảng bá Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026 trên hệ thống màn hình điện tử tại phố đi bộ Myeongdong ở Seoul (Hàn Quốc). Hoạt động nhằm đưa thông tin sự kiện đến doanh nghiệp, nhà đầu tư và công chúng quốc tế trước ngày khai mạc.

Bộ Xây dựng rốt ráo thực hiện '6 rõ' trong giải ngân

Bộ Xây dựng rốt ráo thực hiện '6 rõ' trong giải ngân

Thời gian thi công từ nay đến cuối năm 2026 chỉ còn hơn 2 tháng, trong khi khối lượng công việc còn lại rất lớn, nếu các cơ quan, đơn vị không có sự nỗ lực vượt bậc sẽ không thể giải ngân hết số vốn được giao - Đây là nhận định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh tại Chỉ thị về việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân kế hoạch đầu tư công năm 2026 mới đây; đồng thời yêu cầu tổ chức điều hành và giải ngân dự án phải thể hiện cụ thể nội dung “6 rõ” (Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền) để bảo đảm hiệu quả giải quyết công việc.

Cơ hội hợp tác Việt Nam- Na Uy về điện gió ngoài khơi

Cơ hội hợp tác Việt Nam- Na Uy về điện gió ngoài khơi

Với lợi thế tài nguyên gió và nền tảng công nghiệp dầu khí biển, Việt Nam đang thúc đẩy hợp tác với Na Uy về công nghệ, đầu tư và chuỗi cung ứng, mở rộng cơ hội phát triển điện gió ngoài khơi, hướng tới mục tiêu Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đề ra là tổng công suất 6.000 MW vào năm 2030 và 17.000 MW vào năm 2035.

Cao tốc Bến Lức - Long Thành đánh thức tiềm năng vùng- Bài 2: Để lợi thế hạ tầng thành động lực tăng trưởng

Cao tốc Bến Lức - Long Thành đánh thức tiềm năng vùng- Bài 2: Để lợi thế hạ tầng thành động lực tăng trưởng

Cao tốc Bến Lức - Long Thành mở thêm hành lang giao thông kết nối Đồng bằng sông Cửu Long với Thành phố Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ, tạo cơ hội mở rộng không gian phát triển cho các địa phương. Để biến lợi thế hạ tầng thành động lực tăng trưởng, Tây Ninh và Đồng Tháp hướng đến gắn quy hoạch giao thông với phát triển công nghiệp, logistics, kinh tế biển, nông nghiệp chế biến và cải thiện môi trường đầu tư thu hút dòng vốn đầu tư.