Cảnh báo rủi ro từ đảm bảo an ninh ‘tương tự Điều 5 NATO’ cho Ukraine và đề xuất thay thế

Một viện nghiên cứu tại Washington cho rằng những cam kết an ninh mơ hồ “tương tự Điều 5 NATO” sẽ không thể ngăn được Moskva và kêu gọi áp dụng mô hình “không liên kết có vũ trang” để bảo đảm tương lai cho Kiev.
Chú thích ảnh
Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky (thứ 2, trái) và Tổng Thư ký Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) Mark Rutte (thứ 2, phải) trong cuộc họp báo tại Hội nghị thượng đỉnh NATO ở La Hay, Hà Lan ngày 24/6/2025. Ảnh: THX/TTXVN

Báo The Kyiv Post ngày 17/12 cho biết khi chính quyền của Tổng thống Mỹ Donald Trump thử nghiệm ý tưởng đưa ra cho Ukraine các bảo đảm an ninh mơ hồ, “tương tự Điều 5 của NATO”, để đổi lấy một thỏa thuận chấm dứt xung đột với Liên bang Nga thì báo cáo mới của một viện nghiên cứu quốc phòng tại Washington lập luận rằng đề xuất này không đáng tin cậy cũng như không bền vững, đồng thời đưa ra một phương án thay thế được thiết kế để vượt qua sự phản đối của Moskva và những giới hạn chính trị của phương Tây.

“Quả bóng thăm dò” của chính quyền Mỹ được đưa ra trong tuần này đã mô tả các bảo đảm an ninh cho Ủaine thấp hơn tư cách thành viên NATO nhằm trấn an Kiev trong khi đàm phán về một thỏa thuận hòa bình.

Tuy nhiên, theo các nhà phân tích, những cam kết như vậy sẽ thiếu hiệu lực pháp lý như điều khoản phòng thủ tập thể của liên minh (Điêu 5 NATO), vấp phải sự hoài nghi sâu sắc ở châu Âu, và gần như chắc chắn sẽ bị Liên bang Nga bác bỏ hoàn toàn.

Tại Washington, các cam kết này cũng sẽ phụ thuộc vào việc các chính quyền tương lai có lựa chọn tôn trọng những lời hứa chưa từng được Quốc hội phê chuẩn hay không.

Trong bối cảnh đó, bà Jennifer Kavanagh, Giám đốc phân tích quân sự tại Defense Priorities, một viện nghiên cứu ở Washington, đang thúc đẩy một mô hình hậu chiến khác: không liên kết có vũ trang – một khuôn khổ đánh đổi các bảo đảm chính thức lấy một chiến lược tự vệ, được hậu thuẫn bằng sự hỗ trợ bền bỉ nhưng có điều kiện từ phương Tây.

Bà Kavanagh lưu ý rằng “việc xác định các sắp xếp cho an ninh hậu chiến của Ukraine sẽ là một yếu tố cực kỳ quan trọng của một giải pháp đàm phán nhằm chấm dứt xung đột Nga–Ukraine”.

Theo chuyên gia này, bất kỳ thỏa thuận lâu dài nào cũng phải xử lý nỗi lo của Kiev về khả năng Moskva tái triển khai chiến dịch quân sự nhằm vào Ukraine, đồng thời tính đến sự phản đối của Moskva đối với việc NATO mở rộng cũng như các ràng buộc về chính trị, nguồn lực mà Mỹ và châu Âu đang đối mặt. Sự kết hợp đó hầu như không để lại nhiều dư địa cho các cam kết kiểu liên minh.

Vì sao đảm bảo an ninh “tương tự Điều 5 của NATO” là không đủ

Liên bang Nga nhiều khả năng vẫn kiên trì hai “lằn ranh đỏ” trong bất kỳ thỏa thuận nào, đó là Ukraine không gia nhập NATO và không có lực lượng nước ngoài đồn trú trên lãnh thổ nước này.

Bà Kavanagh đánh giá rằng đây là những yêu cầu mà phương Tây khó có thể thách thức vô thời hạn, đặc biệt là khi thiếu sự ủng hộ rộng rãi của công chúng hoặc sự bảo đảm bằng hiệp ước.

Việc đưa ra các bảo đảm mang dáng dấp liên minh nhưng không có liên minh thực sự, theo bà Kavanagh, có nguy cơ tạo ra những kỳ vọng mà Mỹ và châu Âu không thể đáp ứng nếu gió chính trị đổi chiều.

Báo cáo của Defense Priorities lập luận: “Không liên kết có vũ trang là cách tiếp cận khả thi nhất đối với an ninh hậu chiến của Ukraine, bởi nó có thể bảo đảm năng lực tự vệ và răn đe xâm lược của Ukraine, đồng thời giải quyết các quan ngại an ninh của Liên bang Nga và tính đến các ràng buộc chính trị, nguồn lực tại Mỹ và châu Âu”.

Không liên kết, nhưng không bị cô lập

Theo đề xuất của Defense Priorities, Ukraine sẽ chính thức đứng ngoài NATO nhưng không hề bị cắt đứt khỏi NATO.

Các cuộc tập trận quân sự với các đối tác phương Tây sẽ tiếp tục diễn ra bên ngoài lãnh thổ Ukraine, cùng với hợp tác công nghiệp quốc phòng và các chương trình huấn luyện, tất cả đều không kéo theo các nghĩa vụ pháp lý của tư cách thành viên.

“Tôi cố ý chọn ‘không liên kết’ thay vì ‘trung lập’”, bà Kavanagh nói với báo The Kyiv Post hôm 16/12, nhấn mạnh rằng Ukraine vẫn sẽ duy trì các quan hệ đối tác quốc phòng, đặc biệt là với các quốc gia châu Âu, bên ngoài một cấu trúc liên minh chính thức.

Chuyên gia này cho biết thêm rằng “thực tế là mô hình an ninh của Ukraine và hình thức không liên kết có vũ trang của nước này sẽ mang tính đặc thù và riêng biệt đối với Ukraine”.

Phòng thủ kiểu “nhím”

Trọng tâm của mô hình là một chiến lược tự vệ dựa trên việc chống xâm nhập lãnh thổ, thường được mô tả là “phòng thủ nhím”.

Ukraine sẽ tập trung khiến bất kỳ nỗ lực nào trong tương lai của Liên bang Nga nhằm chiếm lãnh thổ trở nên chậm chạp, tốn kém và khó thành công.

“Một Ukraine không liên kết sẽ phải tự chịu trách nhiệm cho việc phòng thủ của mình”, bà Kavanagh viết.

Nếu răn đe thất bại, mục tiêu sẽ chuyển sang tiêu hao, tức là ngăn kẻ xâm lược đạt được mục tiêu của họ, thay vì trông cậy vào sự leo thang nhanh chóng hoặc sự can thiệp bên ngoài không chắc chắn.

Chú thích ảnh
Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky (phải) và Tổng Thư ký Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) Mark Rutte trong cuộc họp báo tại Kiev, ngày 22/8/2025. Ảnh: Kyodo/TTXVN

Trấn an mà không cam kết tham chiến

Thay cho các bảo đảm an ninh chính thức, bà Kavanagh đề xuất các cam kết nhiều tầng từ Mỹ và châu Âu, lý tưởng nhất là được luật hóa bởi các cơ quan lập pháp để khó bị đảo ngược hơn.

Trong cuộc phỏng vấn với báo The Kyiv Post, bà Kavanagh nêu bốn trụ cột: viện trợ và tài trợ quân sự trong thời bình; các gói hỗ trợ quân sự và kinh tế tăng cường được thỏa thuận trước trong trường hợp tái xâm lược, bao gồm chia sẻ tình báo nâng cao; các kho dự trữ vũ khí chiến lược do phương Tây bảo trợ đặt ngoài lãnh thổ Ukraine; và các biện pháp trừng phạt “tự động tái áp đặt” nếu Liên bang Nga vi phạm thỏa thuận.

Không biện pháp nào đòi hỏi nghĩa vụ hiệp ước phải trực tiếp tham chiến với Liên bang Nga. Kết hợp lại, bà Kavanagh cho rằng chúng sẽ làm gia tăng chi phí của hành động xâm lược mới trong khi vẫn bền vững về mặt chính trị.

Lực lượng và cái giá phải trả

Báo cáo của Defense Priorities ước tính Ukraine sẽ cần khoảng 235.000 quân thường trực và 345.000 quân dự bị, một lực lượng mà bà Kavanagh mô tả là “tiệm cận ngưỡng trên” của khả năng duy trì lâu dài, xét đến các ràng buộc về nhân khẩu học và tài chính.

Đánh giá của bà Kavanagh dựa trên việc triển khai lực lượng hiện tại của Liên bang Nga. Mặc dù Moskva có thể tìm cách mở rộng quân đội, bà cho biết bà hoài nghi về khả năng nước này có thể dành nhiều lực lượng hơn đáng kể cho Ukraine trong khi vẫn phải đối mặt với một châu Âu đang tái vũ trang.

Theo mô hình này, tổng hỗ trợ của phương Tây sẽ vào khoảng 41,5 tỷ USD trong năm năm, tương đương chưa đến 10 tỷ USD mỗi năm.

Bà Kavanagh nói với báo The Kyiv Post rằng mức hỗ trợ đó khả thi về mặt chính trị và công nghiệp, đặc biệt là tại châu Âu, nơi các nhà lãnh đạo đã coi an ninh của Ukraine là không thể tách rời khỏi an ninh của chính họ.

“Đây không phải là một con số quá lớn”, bà Kavanagh nói, đồng thời cho biết các chính phủ châu Âu đã thể hiện sẵn sàng tiếp tục hỗ trợ sau chiến tranh.

Được thiết kế cho thực tế chính trị

Những người chỉ trích cho rằng không liên kết trong lịch sử thường đồng nghĩa với dễ bị tổn thương.

Tuy nhiên, bà Kavanagh phản biện rằng một số quốc gia không liên kết, bao gồm Ấn Độ và Việt Nam, đã duy trì được các lực lượng quân sự đủ năng lực và đa dạng hóa các quan hệ đối tác quốc phòng.

Theo bà Kavanagh, mấu chốt nằm ở chỗ mô hình của Ukraine sẽ được đàm phán, được thiết kế riêng và đủ mạnh, chứ không phải là sự quay trở lại trạng thái trung lập trước chiến tranh.

Khi Washington tranh luận về mức độ có thể trấn an Kiev mà không kích hoạt một cuộc đối đầu với Moskva, các lựa chọn dường như đang thu hẹp lại.

Câu hỏi không còn là liệu Ukraine có nhận được những cam kết kiểu NATO hay không, mà là liệu các sắp xếp an ninh hậu chiến sẽ được xây dựng trên những bảo đảm mà phương Tây không thể thực thi, hay trên một chiến lược phòng thủ được thiết kế để tồn tại trước những biến động chính trị ở cả hai bờ Đại Tây Dương.

Thành Nam/Báo Tin tức và Dân tộc

Dành cho bạn

Trụ sở Cục Dự trữ Liên bang Mỹ tại Washington, D.C. Ảnh: THX/TTXVN

Lý do Fed có thể 'phanh' tăng lãi suất dù lạm phát cao

Chi phí sinh hoạt tiếp tục là mối quan tâm hàng đầu của cử tri Mỹ trước thềm cuộc bỏ phiếu ngày 3/11. Đây cũng là nội dung được các quan chức Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đặc biệt chú trọng khi chuẩn bị bước vào cuộc họp cuối cùng trước thềm bầu cử giữa nhiệm kỳ.

Từ trái sang: Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan, Thái tử Saudi Arabia Mohammed bin Salman và Thủ tướng Pakistan Shehbaz Sharif tại lễ ký hiệp định phòng thủ giữa ba nước ở thành phố Mecca ngày 7/8/2026. Ảnh: AA/TTXVN phát

Vì sao Saudi Arabia, Thổ Nhĩ Kỳ và Pakistan cùng cử quan chức an ninh tới Iran?

Cuộc gặp tại Tehran giữa Iran và các quan chức an ninh cấp cao Saudi Arabia, Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan diễn ra giữa lúc căng thẳng tại Yemen và nguy cơ xung đột khu vực tiếp tục gia tăng. Đằng sau hoạt động ngoại giao này là những tính toán về kiểm soát khủng hoảng, bảo vệ lợi ích an ninh và khả năng hình thành cơ chế hợp tác khu vực.

Bầu cử giữa nhiệm kỳ ở Mỹ tác động thế nào đến chính sách với Hàn Quốc và Triều Tiên?

Bầu cử giữa nhiệm kỳ ở Mỹ tác động thế nào đến chính sách với Hàn Quốc và Triều Tiên?

Cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tại Mỹ khó làm thay đổi căn bản chính sách của Washington đối với liên minh Mỹ - Hàn, nhưng có thể ảnh hưởng đến các yêu cầu của Tổng thống Donald Trump về an ninh, thương mại cũng như nỗ lực nối lại đối thoại với Triều Tiên. Đây là nhận định của các chuyên gia nghiên cứu về bán đảo Triều Tiên.

Cuộc đua hậu bầu cử

Cuộc đua hậu bầu cử

Càng gần thời điểm bầu cử quốc hội Israel (Knesset) ngày 27/10, cuộc cạnh tranh giữa Thủ tướng Benjamin Netanyahu và cựu Tổng tham mưu trưởng quân đội Gadi Eisenkot càng thu hút sự chú ý.