Theo Tuần báo Makorrishon (Israel) mới đây, khi Iran đóng eo biển Hormuz vào đầu cuộc chiến, khoảng 15 triệu thùng dầu mỗi ngày bị chặn lại. Nhiều người lo ngại giá dầu sẽ tăng vọt và kéo theo sự sụp đổ của kinh tế toàn cầu. 7 tháng sau, giá dầu vẫn cao nhưng không đến mức như lo ngại. Các nhà bình luận cho rằng, lượng dầu đang được vận chuyển hiện đủ đáp ứng nhu cầu toàn cầu. Thị trường phục hồi một phần nhờ việc dùng các nguồn dự trữ sẵn có và nhờ nhu cầu sụt giảm.
Nguyên nhân chính là Saudi Arabia và các nước sản xuất dầu vùng Vịnh khác đã nhanh chóng tìm ra tuyến xuất khẩu thay thế và tận dụng công suất còn dư của các đường ống dẫn dầu. Khi Iran và các lực lượng dân quân bắt đầu tấn công cả những tuyến này, các nước xuất khẩu dầu và quân đội Mỹ lại tìm thêm cách khác. Hết đường vòng này đến đường vòng khác, họ lao vào một trò chơi "đập chuột" và đôi khi diễn ra trong bí mật.
Giá dầu hiện ở mức khoảng 100 USD/thùng, cao hơn trước chiến tranh nhưng thấp hơn dự đoán ban đầu. Kết quả là đòn bẩy gây sức ép của Iran đang suy yếu. Trong khi đó, lệnh phong tỏa hải quân của Mỹ và các lệnh trừng phạt ngày càng nghiêm ngặt đang bóp nghẹt nền kinh tế Tehran.
Tuy nhiên, các giải pháp thay thế có chi phí rất cao và chưa chắc duy trì được lâu dài. Việc dùng đến các kho dự trữ dầu thương mại trên thế giới, nhất là ở Trung Quốc, đã giúp kìm đà tăng giá, nhưng cách này cũng có giới hạn. Iran vẫn có thể giành lợi thế nếu tiếp tục tấn công các cơ sở dầu mỏ quan trọng ở vùng Vịnh.
Hết đường vòng này đến đường vòng khác
Iran bắt đầu tấn công tàu thuyền ở eo biển Hormuz để đáp trả chiến dịch ném bom quy mô lớn mở màn cuộc chiến. Để ứng phó, Saudi Arabia chuyển sang bơm dầu qua đường ống Đông - Tây trong lãnh thổ nước này, dẫn tới cảng Yanbu bên bờ Biển Đỏ. Từ đó, các tàu chở dầu đi qua eo biển Bab el-Mandab để sang châu Á. Tương tự, Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) dùng đường ống riêng đi qua nước láng giềng Oman để tới cảng Fujairah, tránh được eo biển Hormuz.
Ngay trước chiến tranh, cả hai đường ống này đều chưa chạy hết công suất. Nhờ vậy, khi chuyển hướng dầu sang đây, công ty dầu khí quốc doanh của UAE và Saudi Aramco đã giữ cho xuất khẩu dầu không sụp đổ hoàn toàn trong những tuần đầu. Cùng lúc đó, một lượng dầu nhất định vẫn đi qua eo biển Hormuz.
Tháng 5 năm nay, những công ty vận tải biển chấp nhận rủi ro bị Iran tấn công bắt đầu đi tuyến phía Nam qua eo biển Hormuz, gần Oman, dưới sự giám sát của Mỹ. Họ làm vậy bất chấp việc Iran yêu cầu tàu phải đi tuyến phía Bắc, sát bờ biển Iran. Các tàu chở dầu chạy vào ban đêm, tắt hệ thống định vị và liên lạc. Chúng chuyển dầu sang những tàu khác đang chờ bên ngoài eo biển rồi quay lại Vịnh Ba Tư. Các chuyến hàng dầu từ Kuwait, Iraq và UAE nhờ đó hoạt động trở lại.
Trong khi đó, tuyến thay thế qua Yanbu (Saudi Arabia) bị gián đoạn. Lực lượng Houthi ở Yemen tuyên bố sẽ phong tỏa các chuyến hàng dầu của Saudi Arabia và đe dọa tàu thuyền qua eo biển Bab el-Mandab, giống những gì đã xảy ra ở Hormuz. Saudi Arabia lại đổi tuyến xuất khẩu sang châu Á, đưa hàng về phía Tây Bắc ra Địa Trung Hải. Hàng đi qua kênh đào Suez, hoặc được bơm qua đường ống SUMED chạy xuyên Ai Cập. Từ đó, dầu đi một hành trình vòng dài qua eo biển Gibraltar, quanh châu Phi rồi mới tới Đông Á. Đầu tháng này, đường ống Đông - Tây cũng bị tấn công và phải ngừng hoạt động. Chỉ vài ngày sau, đường ống đã hoạt động lại, nhưng có thể phải mất vài tuần mới hoạt động bình thường hoàn toàn.
Ngày 11/9, việc bốc dầu tại cảng Yanbu bị tạm dừng. Saudi Arabia đổi tuyến xuất khẩu thêm một lần nữa, cùng các nhà sản xuất vùng Vịnh khác đưa dầu qua hành lang do Mỹ bảo vệ ở eo biển Hormuz. Theo dữ liệu của công ty theo dõi vận tải biển Kepler, tuần trước, sáu siêu tàu chở dầu đã nhận 12 triệu thùng dầu tại các cảng của Saudi Arabia trên Vịnh Ba Tư.
Thế cân bằng mong manh
Gần đây, Đô đốc Brad Cooper, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ, cho biết lực lượng Mỹ đã giúp 2.000 tàu thương mại đi qua eo biển Hormuz trong những tháng gần đây. Theo ông, việc này đã đảm bảo hơn một tỷ thùng dầu của các nước vùng Vịnh cho thị trường. Các nhà phân tích ước tính trung bình mỗi ngày có khoảng 6 triệu thùng dầu đi qua tuyến phía Nam ít được biết đến này, tức hơn 40% sản lượng trước chiến tranh.
Ông Raul Choudhary, Phó Chủ tịch phụ trách nghiên cứu sản lượng dầu tại công ty dữ liệu năng lượng Restead Energy, tính toán rằng hiện mỗi ngày có khoảng 6 đến 7 triệu thùng đi qua tuyến phía Nam ở Hormuz. Ngoài ra còn 2 triệu thùng đi qua đường ống tới Fujairah (UAE). Như vậy, khoảng 8 trong số 15 triệu thùng mỗi ngày bị chặn khi chiến tranh nổ ra đã quay lại thị trường. So với xuất khẩu trước chiến tranh, thị trường vẫn thiếu khoảng 7 triệu thùng mỗi ngày.
Phần thiếu hụt này đang được bù bằng khoảng 3,5 triệu thùng mỗi ngày lấy từ kho dự trữ. Thêm vào đó, nhu cầu tiêu thụ giảm khoảng 5 triệu thùng mỗi ngày do giá dầu cao và tăng trưởng chậm lại ở các thị trường chủ chốt. Các nhà cung cấp khác, trong đó có Mỹ, tăng sản lượng thêm 500.000 đến 700.000 thùng mỗi ngày.
"Thị trường đang ở trạng thái cân bằng rất mong manh. Vì vậy, chúng ta không thấy giá dầu thô tăng vọt. Giá vẫn ở khoảng 100 USD/thùng, chưa lên tới 140 - 150 USD/thùng, mức sẽ xảy ra nếu nguồn cung thiếu khoảng 5 đến 6 triệu thùng", ông Choudhary nói. Theo dự báo của Restead Energy, nếu eo biển Hormuz mở trở lại, giá dầu sẽ ở mức 85 - 90 USD/thùng trong ba tháng cuối năm 2026 và giảm còn 80 - 82 USD/thùng vào năm 2027.
Cái giá đắt đỏ
Các giải pháp thay thế đều tốn thời gian và tiền bạc. Nếu dầu sang châu Á phải đi vòng qua kênh đào Suez thay vì đi thẳng qua Biển Đỏ, hành trình có thể dài thêm cả tháng. Còn khi chuyển dầu giữa các tàu để qua eo biển Hormuz, những tàu chở dầu đắt tiền phải chờ ít nhất một ngày rưỡi ở Vịnh Oman.
Nhu cầu siêu tàu chở dầu tăng mạnh đã đẩy giá thuê tàu lên cao. Bình thường, giá thuê dao động từ 30.000 đến 50.000 USD mỗi ngày. Đến ngày 11/9, giá thuê tàu đi qua eo biển Hormuz đã lên khoảng 1 triệu USD mỗi ngày, tương đương khoảng 26 USD cho mỗi thùng dầu. Điều này có nghĩa là chi phí vận chuyển đường biển hiện bằng một phần tư giá dầu, trong khi bình thường chỉ chiếm 1 đến 3%.