Đưa khoa học và công nghệ vào thực tiễn
Theo ông Chu Thúc Đạt, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo (Bộ Khoa học và Công nghệ), phát triển nông nghiệp, nông dân và kinh tế nông thôn luôn là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn chỉ có thể thành công khi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn.
Được triển khai theo Quyết định số 1747 của Thủ tướng Chính phủ ngày 13/10/2015, chương trình hướng tới đưa nhanh tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào sản xuất; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận, làm chủ công nghệ mới, tiên tiến; đồng thời tạo ra các sản phẩm có giá trị kinh tế cao thông qua liên kết giữa Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân.
Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định cho biết, trong giai đoạn 2016-2025, chương trình đã triển khai 551 dự án tại 34 tỉnh, thành phố; xây dựng 1.426 mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; chuyển giao 2.354 quy trình công nghệ mới, tiên tiến, phù hợp với điều kiện từng vùng miền.
Đáng chú ý, tỷ lệ dự án do doanh nghiệp và hợp tác xã chủ trì đạt khoảng 70,7%, cho thấy vai trò ngày càng rõ nét của doanh nghiệp trong hoạt động ứng dụng và chuyển giao công nghệ.
Chương trình cũng đào tạo hơn 1.800 cán bộ quản lý, hơn 4.000 kỹ thuật viên cơ sở và tập huấn cho trên 82.000 lượt nông dân. Đây là lực lượng nòng cốt giúp duy trì, vận hành và nhân rộng các mô hình sau khi dự án kết thúc.
Các mô hình ứng dụng công nghệ đạt mức tăng giá trị kinh tế trung bình trên 30% so với công nghệ cũ, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm và đưa sản phẩm tham gia các chuỗi liên kết tiêu thụ bền vững.
Từ chuyển giao công nghệ đến tạo sinh kế
Hiệu quả của chương trình được thể hiện qua nhiều mô hình cụ thể trong sản xuất nông nghiệp, dược liệu, nuôi ong, chế biến gỗ và nông nghiệp công nghệ cao.
Trong lĩnh vực dược liệu, Viện Dược liệu đã chuyển giao quy trình cho 32 đơn vị tại 23 tỉnh, góp phần hình thành các vùng nguyên liệu tập trung cho những loài cây có giá trị kinh tế cao như đương quy, đảng sâm, hà thủ ô đỏ.
Bà Phan Thúy Hiền, Phó Viện trưởng Viện Dược liệu cho biết, chương trình không chỉ hình thành các vùng sản xuất dược liệu tập trung, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân, mà còn góp phần thay đổi tập quán sản xuất từ kinh nghiệm truyền thống sang sản xuất theo quy trình kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng và định hướng thị trường.
Trong lĩnh vực công nghệ rừng, ông Bùi Duy Ngọc , Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng cho hay, Viện đã hỗ trợ doanh nghiệp địa phương tiếp nhận và làm chủ nhiều công nghệ như sấy gỗ xẻ rừng trồng, sản xuất ván ghép thanh, đũa gỗ xuất khẩu, viên nén sinh học từ phụ phẩm chế biến gỗ và gỗ ghép khối từ ván bóc.
Tại Vĩnh Phúc, Công ty Cổ phần ong Tam Đảo làm chủ 15 quy trình công nghệ từ nuôi ong đến sơ chế, bảo quản. Sau khi ứng dụng công nghệ, năng suất mật ong tăng từ 10-15 kg/đàn/năm lên 36 kg/đàn/năm.
Trong lĩnh vực hoa, cây cảnh, Trung tâm Nghiên cứu và phát triển hoa, cây cảnh (Viện Nghiên cứu rau quả) đã chuyển giao hơn 40 quy trình kỹ thuật tiên tiến cho 20 dự án trên cả nước. Các công nghệ nhân giống, trồng và chăm sóc những loài hoa cao cấp như lan hồ điệp, lan đại châu, hoa huệ được chuyển giao đến các vùng khó khăn, giúp người dân làm chủ kỹ thuật và nâng cao hiệu quả kinh tế.
TS Nguyễn Văn Tỉnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và phát triển hoa, cây cảnh chia sẻ, giá trị lớn nhất không chỉ là các mô hình hoa công nghệ cao đạt doanh thu 2,5-3 tỷ đồng/ha, mà còn là việc "chuyển giao niềm tin" của người dân vào việc tri thức có thể làm giàu trên chính mảnh đất quê hương.
Theo TS Nguyễn Văn Tỉnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và phát triển hoa, cây cảnh, nhiều hộ dân từ chỗ còn e ngại với công nghệ mới đã mạnh dạn đầu tư, học hỏi và làm chủ kỹ thuật; nhiều cán bộ kỹ thuật cơ sở trở thành những hạt nhân lan tỏa tri thức khoa học tại địa phương.
Chuyển từ xây dựng mô hình sang giải quyết bài toán phát triển
Bên cạnh những kết quả đạt được, chương trình cũng đối mặt với nhiều khó khăn như thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường, thủ tục quản lý, năng lực tiếp nhận công nghệ và khả năng duy trì, nhân rộng mô hình sau khi dự án kết thúc.
Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định cho rằng chương trình có những rủi ro đặc thù, trong đó có thiên tai, năng lực quản lý của người dân và doanh nghiệp nhỏ tại vùng sâu, vùng xa, cũng như khả năng dự báo thị trường trong thời gian 3-5 năm.
"Thành công lớn nhất của chương trình không chỉ nằm ở số lượng mô hình hay quy trình công nghệ được chuyển giao, mà quan trọng hơn là đã đưa khoa học và công nghệ đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp và chính quyền cơ sở; biến tri thức thành năng suất, công nghệ thành sinh kế và đổi mới sáng tạo thành động lực phát triển của địa phương", Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định nhấn mạnh.
Trong giai đoạn tới, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định cho rằng, cần chuyển từ hỗ trợ xây dựng mô hình sang giải quyết các bài toán phát triển của từng địa phương; từ chuyển giao công nghệ sang làm chủ công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; từ hỗ trợ riêng lẻ sang phát triển chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Đồng tình với định hướng này, TS Nguyễn Văn Tỉnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và phát triển hoa, cây cảnh mong muốn tiếp tục có chương trình kế thừa để kết quả nghiên cứu khoa học không dừng lại ở giai đoạn thử nghiệm mà được lan tỏa sâu rộng hơn tới các địa phương; đồng thời tăng cường liên kết giữa cơ quan nghiên cứu, doanh nghiệp và địa phương để hình thành các chuỗi giá trị bền vững.
Những kết quả sau 10 năm cho thấy, khoa học và công nghệ không chỉ góp phần nâng cao năng suất mà đang từng bước thay đổi tư duy sản xuất, tạo sinh kế và mở ra hướng phát triển bền vững cho khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.