Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng (phải) và Bộ trưởng Thương mại Ủy ban Kinh tế Á - Âu Andrei A. Slepnev, Trưởng đoàn đàm phán phía Liên minh Hải quan Nga - Belarus - Kazakhstan ký kết Tuyên bố chung. Ảnh: Đức Tám – TTXVN |
Về Hiệp định FTA Việt Nam – Liên minh Hải quan (VCUFTA) : Đàm phán Hiệp định chính thức được khởi động tại Hà Nội ngày 28/3/2013. Sau 8 phiên đàm phán chính thức và nhiều phiên họp giữa kỳ ở cấp kỹ thuật, hai bên đã cơ bản thống nhất nội dung Hiệp định với phạm vi toàn diện, mức độ cam kết cao và đảm bảo cân bằng lợi ích, có tính đến điều kiện cụ thể của từng Bên. Ngày 15/12/2014, tại Phú Quốc, Kiên Giang, dưới sự chứng kiến của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, các đại sứ, đại diện của 3 đại sứ quán, lãnh đạo của một số Bộ, ngành và tỉnh Kiên Giang, Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam, Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam và Bộ trưởng A. Slepnev, Trưởng đoàn đàm phán phía Liên minh Hải quan đã ký tuyên bố chung kết thúc đàm phán Hiệp định. Phía Liên minh Hải quan đã dành cho Việt Nam ưu đãi, tạo cơ hội xuất khẩu mới quan trọng đối với các nhóm hàng Việt Nam có lợi ích cơ bản như nông sản, bao gồm tất cả các mặt hàng thủy sản và hàng công nghiệp như dệt, may, da giày, đồ gỗ và một số sản phẩm chế biến. Phía Việt Nam đồng ý mở cửa thị trường có lộ trình cho Liên minh Hải quan đối với một số sản phẩm chăn nuôi, một số mặt hàng công nghiệp gồm máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải. Các mặt hàng này đều không cạnh tranh với hàng hóa Việt Nam mà ngược lại góp phần làm đa dạng hóa thêm thị trường tiêu dùng trong nước. * Với vai trò Trưởng Đoàn đàm phán Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Hải quan (VCUFTA), xin Bộ trưởng cho biết những thuận lợi, khó khăn trong các vòng đàm phán Hiệp định này? Việt Nam và các nước thành viên Liên minh Hải quan vốn có quan hệ anh em gắn bó lâu dài, với bề dày lịch sử gần 65 năm kể từ thời Liên Xô. Trong bối cảnh hiện nay, Liên minh Hải quan đặc biệt quan tâm đến đẩy mạnh phát triển hợp tác về mọi mặt với nước thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt là Việt Nam. Đây cũng là đặc điểm riêng của việc đàm phán VCUFTA. Trong quá trình đàm phán, thành viên Đoàn đàm phán hai bên, trong khi luôn quán triệt quan điểm chỉ đạo là đảm bảo lợi ích đất nước, có tính đến điều kiện cụ thể của từng bên, đã một nữa khẳng định tình hữu nghị, luôn cố gắng để có những linh hoạt trong khá nhiều vấn đề. Một đặc điểm khác biệt nữa của việc đàm phán VCUFTA đó là FTA này là FTA đầu tiên được Liên minh Hải quan đàm phán với một nước ngoài khối. Đồng thời, về mặt tổ chức, Liên minh Hải quan còn đang được liên tục hoàn thiện và bắt đầu từ ngày 1/1/2015 Liên minh này sẽ trở thành Liên minh Kinh tế Á Âu. Do vậy, trong các phiên đàm phán đầu, phía bạn gặp khó khăn về tham vấn nội bộ, đặc biệt là do Kazakshtan và Belarus chưa phải là thành viên WTO trong khi, như tất cả các FTA khác, Hiệp định này được đàm phán dựa trên các nguyên tắc và quy định của WTO. Đối với Việt Nam, khó khăn nhất là nhân lực đàm phán, vì trong cùng một thời điểm, ta đồng thời phải đàm phán 6 FTA (TPP, với EU, Liên minh Hải quan, Hàn Quốc, EFTA và Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực RCEP); điểm thuận lợi là chủ trương của Đảng và Nhà nước về tăng cường hội nhập quốc tế, trong đó hội nhập kinh tế là quan trọng; về kinh nghiệm, ta đã ký kết 8 FTA, đang đàm phán 6 Hiệp định, nên phía Việt Nam luôn thể hiện tinh thần hợp tác và sẵn sàng hỗ trợ Bạn khi cần thiết. Nhờ sự nỗ lực vượt bậc của các thành viên Đoàn đàm phán hai bên, cùng với sự chỉ đạo sát sao của các Lãnh đạo cấp cao hai bên, chỉ trong vòng gần 2 năm đàm phán, với 8 vòng đàm phán chính thức và nhiều phiên đàm phán giữa kỳ, hai bên đã kết thúc việc đàm phán Hiệp định, được khẳng định như là một công cụ quan trọng để góp phần thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác và củng cố sự phát triển thương mại và đầu tư trên cơ sở hai bên cùng có lợi. * Sau 8 phiên đàm phán, Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Hải quan vừa kết thúc. Xin Bộ trưởng cho biết ý nghĩa kinh tế của Hiệp định này đối với các hoạt động hợp tác thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và các đối tác? Liên minh Hải quan, với 3 thành viên hiện tại, là một thị trường rộng lớn có diện tích tự nhiên 20 triệu km2 với khoảng 170 triệu dân. Đây cũng là một thị trường mới mở cửa, có mức tăng trưởng GDP khá và tương đối ổn định. Tổng GDP của khối hiện nay đạt khoảng 2.500 tỷ USD. Đối với hàng tiêu dùng, đây cũng là thị trường không quá khó tính, nhu cầu tiêu dùng hàng nhập khẩu đang ngày càng được đa dạng hóa. Đồng thời, do Việt Nam là đối tác FTA đầu tiên của Liên minh, nên việc ký kết Hiệp định này sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội thâm nhập thị trường Liên minh sớm hơn các đối tác khác, với các điều kiện ưu đãi hơn; giúp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ và đầu tư của Việt Nam, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế thế giới còn chưa ổn định như hiện nay. Đối với thương mại hàng hóa, một phân tích sử dụng mô hình GTAP để đánh giá tác động của VCUFTA đối với thương mại hàng hóa cho thấy những mặt hàng của Việt Nam có khả năng tăng trưởng xuất khẩu cao sang Liên minh bao gồm các mặt hàng: thủy sản, gạo, các mặt hàng thực phẩm, hàng may mặc, đồ da, đồ gỗ; của Liên minh sang Việt Nam là hoa quả, dầu và khí, các sản phẩm thịt, các sản phẩm sữa, ô tô và phụ tùng, thiết bị vận tải, đồ da và một số khoáng sản. Về thương mại, theo tính toán sơ bộ, sau khi FTA có hiệu lực, kim ngạch hai chiều của hai bên sẽ tăng bình quân 18-20%/năm, từ mức khoảng 4 tỷ USD năm 2014 lên 10 - 12 tỷ USD vào năm 2020. Đối với lĩnh vực dịch vụ và đầu tư, phân tích quan hệ song phương cho thấy, đầu tư trực tiếp từ phía Liên minh vào Việt Nam cũng như từ Việt Nam sang Liên minh sẽ tăng nhờ các cam kết tự do hóa và môi trường đầu tư thuận lợi hơn, chất lượng đầu tư cũng được cải thiện hơn. Các lĩnh vực khác của nền kinh tế cũng sẽ nhận được những tác động tích cực như: quy mô sản xuất một số mặt hàng tăng lên; thu nhập và việc làm cho người lao động được cải thiện. Thông qua FTA, dịch vụ tài chính - ngân hàng, dịch vụ logistics và hợp tác về hải quan được mong đợi là những lĩnh vực sẽ được hai bên ưu tiên tự do hóa. Ngoài ra, những cơ sở do Liên minh đầu tư tại Việt Nam và Việt Nam tại Liên minh có thể mở rộng đầu tư hoặc xuất khẩu sang thị trường các nước láng giềng, các nước đã ký FTA với Việt Nam. Đây cũng là những lợi thế hai Bên mong đợi khi đàm phán FTA. Danh mục hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang các thành viên Liên minh và của các thành viên Liên minh sang Việt Nam không mang tính cạnh tranh mà chủ yếu mang tính bổ trợ cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các bên. Việc cắt giảm/xóa bỏ thuế quan sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu, tận dụng các lợi thế so sánh của Việt Nam như hàng nông thủy sản, dệt may, da giày, đồ gỗ... Cũng nhờ tính bổ trợ này, việc nhập khẩu các mặt hàng mà phía Liên minh có thế mạnh sẽ giúp cải thiện cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam, đa dạng hóa thị trường nhập khẩu để tránh phụ thuộc quá nhiều vào một vài nước, trong khi không làm ảnh hưởng nhiều đến khả năng cạnh tranh ngành của Việt Nam. Các nước Liên minh là những nước đã có nền công nghiệp phát triển tương đối cao trong các lĩnh vực khoa học – kỹ thuật như năng lượng, dầu khí, công nghệ chế tạo máy... FTA sẽ giúp doanh nghiệp hai Bên học hỏi kiến thức để cùng phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh, đồng thời cũng tạo cơ hội cho Việt Nam tranh thủ tiếp thu công nghệ tiên tiến của Liên minh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. * Trân trọng cảm ơn Bộ trưởng. Thiện Thuật (thực hiện)