Hội Điện ảnh Việt Nam tri ân NSND Nguyễn Đăng Bảy về những đóng góp tích cưc của ông cho nền điện ảnh Việt Nam. NSƯT Nguyễn Lê Văn (trái), con trai của NSND Nguyễn Đăng Bảy, thay mặt gia đình nhận phần thưởng cao quý này. |
Từkhi đến tuổi trưởng thành, bạn bè đồng nghiệp vẫn gọi bố tôi với cái tên thân mật,gần gũi: “Bảy Hổ”. Có lẽ, cái tên Bảy Hổ đã bộc bạch hết cá tính mạnh mẽ, quyếtliệt của ông trong nghề quay phim, khi nào vào việc là nóng như “hổ”.
Nhưngtrong đời thường thì ngược lại, nếu ai gặp ông lần đầu đều không nghĩ rằng đâylà một nhà quay phim nổi tiếng, bởi ông có lối sống vô cùng giản dị bằng nhữngtrang phục đời thường: quần ta, guốc gỗ, cư xử đúng mực, gần gũi, không bao giờđể bụng những chuyện vặt vãnh, ai không nên không phải ông thẳng thắn phê bìnhmột cách chân tình.
Tôicòn nhớ, những năm cắp sách đi học ở trường phổ thông, ông đã hướng cho tôitheo nghề vẽ; rồi cơ duyên cuối cùng ông lại cho tôi theo nghiệp của ông: Nghềquay phim – Nghề vẽ cuộc đời bằng ánh sáng, màu sắc, bố cục mang đến cảm xúc vềcái đẹp trong điện ảnh.
Sinhra và lớn lên tại làng Phù Lưu, Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, bố tôi - Nguyễn Đăng Bảycó một tuổi thơ nhiều cơ cực. Sớm mồ côi cha mẹ, ngay từ khi 13, 14 tuổi ông đãxin vào học, rồi làm tập sự cho một hiệu ảnh kiêm vẽ truyền thần. Khi đã biếtchút ít về nghề, ông lại xin theo học và tập sự giúp việc cho họa sĩ Nguyễn NhưHoành, Hoàng Tích Trù... Con đường lập nghiệp và sáng tạo của một cậu bé nhànghèo đã đưa ông đi qua nhiều chốn, lặn lội qua nhiều chủ để đến một ngày nhữngngón nghề trong hội họa, nhiếp ảnh đã ngấm vào ông. Chính những năm tháng ấy đãđưa ông đến với Cách mạng, cho ông cơ hội đứng trong hàng ngũ những nghệ sĩ củađiện ảnh Việt Nam.
Cáchmạng bùng lên, Nguyễn Đăng Bảy hoạt động trong phong trào thanh niên phản đế,Cách mạng tháng 8, ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Bắc Kạn. ỞTy thông tin tuyên truyền tỉnh rồi chuyển lên Nha, công tác trong tổ phóng viênnhiếp ảnh tuyên truyền kháng chiến. Ông còn giữ được những tấm thẻ cũ có chữ kýcủa các ông Trần Văn Giàu, Lê Giản, ghi nhớ lại thuở ban đầu làm phóng viên chocách mạng.
Từlàng quê, các văn nghệ sĩ như Kim Lân, Nguyễn Đăng Bảy ở Phù Lưu (Bắc Ninh) vàcác văn nghệ sĩ cùng cả nước theo chân Bác Hồ bước vào cuộc kháng chiến thầnthánh của toàn dân tộc, mở đầu những chặng đường tỏa sáng của văn học nghệ thuậtcách mạng Việt Nam.
ViệtBắc – Quê hương cách mạng, là cái nôi của cuộc kháng chiến, là thủ đô của gióngàn. Nguyễn Đăng Bảy đã từng ghi vào nhật ký của mình: “Ánh sáng của thời đại đã chiếu rọi trong lòng người những tình cảmkháng chiến mãnh liệt, làm cho con người gắn liền vào cuộc kháng chiến bằng nhữngphần sâu xa nhất của đời sống mình. Văn nghệ phụng sự kháng chiến, nhưng chínhkháng chiến đem đến cho văn nghệ một sức sống mới, sắt lửa của mặt trận đã hun đúc nên nền nghệ thuật mới của chúng ta”.
Ôngmang máy ảnh theo bộ đội tham gia các chiến dịch. Năm 1947 ở mặt trận Đông Khê,khi lấy được chiếc máy quay là chiến lợi phẩm, Bác Hồ đã chuyển cho ông và từ đóông may mắn được cơ quan giao cho nhiệm vụ quay phim tư liệu kháng chiến và tưliệu về Bác Hồ.
Nhiềulần, ông từng kể cho tôi nghe về những ngày được sống bên cạnh Chủ tịch Hồ ChíMinh, sự gặp gỡ giữa một thanh niên giác ngộ với vị lãnh đạo cao nhất của Cáchmạng Việt Nam. Nhiều lời chỉ dạy của Bác được ông nâng niu, coi trọng, xem nónhư triết lí cuộc sống và ngọn nguồn của sáng tạo. Trong kháng chiến, ông đượcgiao nhiệm vụ ghi lại những hình ảnh tư liệu quý giá về Bác Hồ. Những ngày đầuđi theo kháng chiến, với chút vốn liếng nghệ thuật, ông được phân về nha thôngtin, bắt đầu cuộc đời của người cầm máy, một nghệ sĩ cách mạng. Cũng những nămtháng ấy, ông vinh dự được gặp, chụp ảnh và quay phim về Bác. Nhiều bức ảnh đãra đời trong đó có bức được nhân rộng, in tư liệu để tuyên truyền phục vụ khángchiến. Một vài bức ngày nay vẫn được treo trang trọng trong căn phòng của ông. Nhiềubức khác lại được lưu giữ tại các viện bảo tàng.
Tôinhớ mãi lời kể của ông về câu nói của Bác Hồ: “Cái máy quay phim chỉ là cục sắt vô tri, vô giác. Cái đầu của chú làchính, nghề của chú phải luôn nhanh nhạy, chỉ cần một tích tắc là cảnh vật đãbiến đổi. Quay phim và chụp hình lànghệ thuật của ánh sáng, mỗi bước trong quá trình thể hiện là một bước phía ánhsáng...”.
Kểtừ đó, nghiệp quay phim đã ngấm vào tôi lúc nào không hay. Theo lời bố dạy, tôiđã theo nghề quay phim của ông trong suốt mấy chục năm tại Đài Truyền hình ViệtNam. Chính từ những lời kể của bố về những lời dạy của Bác Hồ đã thúc giục tôira đời cuốn phim tài liệu: “Hồ Chí Minh –Quá khứ, hiện tại và tương lai” đã đạt giải B thể loại phim tài liệu trongcuộc thi sáng tác và quảng bá tác phẩm văn học nghệ thuật và báo chí về chủ đề“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Trong cuốn phim này, tôicó sử dụng những hình do chính nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Đăng Bảy ghi lại được khiếntôi tràn đầy cảm xúc và tự hào về một người bố. Dường như những hình ảnh về BácHồ mà bố tôi đã ghi lại được khi ông được đi cùng với Bác đã như một sự thôithúc, giúp tôi có động lực mạnh mẽ để hoàn thành bộ phim tài liệu.
Giảiphóng Thủ đô năm 1954, Nguyễn Đăng Bảy và các nhà điện ảnh kháng chiến từ Đồi cọchiến khu trở về Hà Nội, ông là một trong những nhà quay phim tài liệu đầu tiênxây dựng điện ảnh nước nhà. Phim “Đường sắtHà Nội – Mục Nam Quan”, “Phong cảnhHà Nội (1956)”, “ Núi rừng Việt Bắc (1957)”... Ngày nay là những hình ảnhtư liệu quý giá. Đặc biệt, ông được theo chân Bác ghi lại những hình ảnh Bác Hồđi thăm các cơ sở cách mạng, các nước: Ấn Độ, Inđônêsia, Miến Điện, Trung Quốc...Cùng với các nhà quay phim tài liệu trong nước và quốc tế, Nguyễn Đăng Bảy đãđóng góp những thước phim chân dung tuyệt đẹp về hình ảnh Hồ Chí Minh - Bác Hồkính yêu trong tâm tưởng của ông “ghi lạiđược chân dung của Bác đối với tôi là một vinh dự và là một đặc ân – Ông nói vớibạn bè đồng nghiệp – Người luôn ở trong tầm mắt, người mà tôi thấy bất cứ tôinhìn ở đâu”. Hình ảnh Bác Hồ trong những thước phim tư liệu của ông và đồngnghiệp là di sản quý báu của lịch sử, của nghệ thuật.
Nhiềungười nói với tôi rằng, Nguyễn Đăng Bảy là một hiện tượng thể hiện những gócnhìn giản dị, mộc mạc, gần gũi, thân thương như “đời”. Năm 1959, bộ phim truyện Việt Nam đầu tiên “Chung một dòngsông” ra đời, điện ảnh cách mạng bước vào một giai đoạn mới với những tác phẩmcó tiếng vang trong nước và thế giới. Năm 1960, Nguyễn Đăng Bảy bước vào nghềquay phim truyện. Năm đó ông mới 37 tuổi, lớp tuổi của những nhà điện ảnh đầutiên trưởng thành trong kháng chiến. Năm 1961, ông nhận quay bộ phim “Con chimvành khuyên” do Nguyễn Văn Thông và Trần Vũ đồng đạo diễn. Bộ phim khởi đầu sựnghiệp quay phim của ông với những khuôn hình chân thật, giản dị, giàu chấtthơ, đó cũng chính là phong cách nổi bật của Nguyễn Đăng Bảy sau này.
Những tên phim như: Cô gái công trường, Con chim vành khuyên, Nổi gió, Đến hẹn lại lên,Không nơi ẩn nấp, Chị Dậu, Ngày lễ thánh, Chuyến xe bão táp... là những dấuấn ghi nhớ từ những ngày đầu của điện ảnh Cách mạng cho tới sau này.
Cáilớn nhất của bố tôi là ông luôn coi nghệ thuật quay phim như cả cuộc đời. Ngụplặn trong thế giới huyền diệu của những khuôn hình, ông như thấy nó quá lớn đểchẳng bao giờ thoát ra được.
Nhữngnăm tuổi già, không còn sức để đi theo những đoàn làm phim, ông đã dồn nhữngtrăn trở, khắc khoải lên những bức tranh khắc. Bắt đầu cuộc đời bằng nghệ thuậthội họa, trải qua bao thăng trầm để cuối cùng ngồi lại bên ông lúc tuổi già làcây cọ, bộ dao khắc, tấm phên gỗ. Những hình ảnh đó tôi không bao giờ quên.
Trongbuổi lễ trao giải Cánh diều của Hội Điện ảnh Việt Nam, thay mặt bố tôi – NSNDNguyễn Đăng Bảy, tôi đã vinh dự được lên sân khấu đón nhận những vinh quang màông đã đạt được hiện diện trong trái tim của công chúng và những người làm nghề.
Đốivới một người nghệ sĩ, nghệ thuật được ví như một cuộc sống thứ hai luôn songhành trong cuộc đời. Còn hơi thở, còn một giây phút sống họ cũng dành hết chonghệ thuật. Bố tôi – Bảy Hổ là một người như thế.