Theo phóng viên TTXVN tại Jakarta, kết quả nghiên cứu được công bố trên báo Tempo (Indonesia) cho thấy các nhà khoa học quốc tế đã huấn luyện mô hình AI nhận diện những dấu hiệu của đào thải tim ghép dựa trên dữ liệu điện tâm đồ (ECG), sau đó kết hợp với kết quả xét nghiệm máu.
Hiện nay, phương pháp tiêu chuẩn để chẩn đoán đào thải sau ghép tim là sinh thiết cơ tim, trong đó bác sĩ sử dụng một thủ thuật để lấy một mẫu nhỏ mô tim và kiểm tra dưới kính hiển vi nhằm tìm các dấu hiệu viêm hoặc những thay đổi bất thường khác.
Một số xét nghiệm máu có thể hỗ trợ phát hiện tình trạng đào thải, song các xét nghiệm này có thể cho kết quả dương tính giả. Điều đó khiến một số bệnh nhân phải tiến hành sinh thiết dù thực tế không xảy ra đào thải.
Để phát triển mô hình AI, nhóm nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 389 bệnh nhân trưởng thành được ghép tim, với hơn 5.000 kết quả điện tâm đồ. Mô hình được huấn luyện để nhận diện các dạng tín hiệu trên ECG liên quan đến tình trạng đào thải và kết hợp thông tin này với kết quả xét nghiệm máu.
Trong một nhóm bệnh nhân khác gồm 38 người, mô hình đã xác định chính xác 100% số bệnh nhân không bị đào thải. Theo các nhà nghiên cứu, nếu chỉ dựa vào xét nghiệm máu, 19 người trong nhóm này sẽ bị xác định nhầm là có khả năng cần sinh thiết.
Nhóm nghiên cứu cho biết kết quả âm tính từ mô hình có 97% khả năng phản ánh chính xác việc bệnh nhân không bị đào thải.
Theo bác sĩ Lior Jankelson thuộc Trường Y Grossman của Đại học New York (NYU), kết quả nghiên cứu cho thấy điện tâm đồ chứa lượng thông tin sinh lý phong phú có thể được khai thác để nâng cao đáng kể độ chính xác trong phát hiện đào thải tim ghép, qua đó tạo điều kiện chẩn đoán và điều trị sớm hơn.
Nếu được xác nhận trong các nghiên cứu quy mô lớn hơn, phương pháp này có thể giúp giảm số ca sinh thiết không cần thiết và giảm mức độ xâm lấn trong quá trình theo dõi bệnh nhân sau ghép tim.
Nhóm nghiên cứu hiện có kế hoạch thử nghiệm mô hình trên số lượng bệnh nhân lớn hơn tại nhiều trung tâm ghép tạng. Đây là bước cần thiết để đánh giá khả năng áp dụng mô hình trong các nhóm bệnh nhân và điều kiện lâm sàng khác nhau trước khi có thể đưa vào thực hành rộng rãi.