Xây dựng tương lai bền vững cho cộng đồng ven biển trước biến đổi khí hậu

Cục Quản lý Đê điều và Phòng chống Thiên tai (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) phối hợp với Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam tổ chức Hội nghị tổng kết Dự án “Tăng cường khả năng chống chịu với những tác động của Biến đổi khí hậu cho các cộng đồng dễ bị tổn thương ven biển Việt Nam” ngày 17/12. 
Chú thích ảnh
Ông Nguyễn Văn Tiến, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai, Giám đốc dự án phát biểu tại lễ tổng kết.

Được triển khai từ năm 2017 - 2024, dự án với tổng ngân sách 42 triệu USD, do Quỹ Khí hậu Xanh (GCF) tài trợ, cùng với nguồn vốn đối ứng của Việt Nam, đã mang lại những tác động tích cực, tăng cường khả năng chống chịu của các cộng đồng ven biển trước những thách thức ngày càng lớn của biến đổi khí hậu.

Dự án được thực hiện tại 7 tỉnh ven biển dễ bị tổn thương: Nam Định, Thanh Hóa, Quảng Bình, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Cà Mau, với mục tiêu bảo vệ và hỗ trợ các cộng đồng dễ bị tổn thương thông qua các giải pháp tích hợp như xây dựng nhà an toàn, phục hồi rừng ngập mặn, và tăng cường hệ thống thông tin rủi ro thiên tai.

Sau hơn 7 năm triển khai, 4.966 ngôi nhà an toàn được xây dựng, dự án đã mang lại nơi ở vững chắc cho hơn 25.000 người dân tại các khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão lũ. Những ngôi nhà này không chỉ bảo vệ tính mạng và tài sản của người dân, mà còn trở thành hình mẫu được lồng ghép vào Chương trình Mục tiêu Quốc gia Giảm nghèo Bền vững.

Ngoài ra, dự án đã tái sinh 4.028 ha rừng ngập mặn, đóng vai trò như những "lá chắn tự nhiên" bảo vệ cộng đồng trước triều cường và bão biển, đồng thời hấp thụ hơn 1,1 triệu tấn CO2, góp phần tích cực vào cam kết của Việt Nam trong giảm phát thải khí nhà kính. Bên cạnh đó, dự án còn hỗ trợ phát triển các mô hình sinh kế bền vững như nuôi ong lấy mật tại Thanh Hóa, giúp người dân tăng thu nhập, đồng thời khuyến khích việc bảo vệ rừng ngập mặn...

Trong lĩnh vực quản lý rủi ro thiên tai, dự án đã thiết lập hệ thống cảnh báo sớm tại 24 xã có nguy cơ cao và tổ chức đào tạo cho hơn 62.000 cán bộ và người dân, trong đó gần 50% là phụ nữ. Những chương trình này đã góp phần nâng cao năng lực và nhận thức của cộng đồng trong ứng phó với thiên tai, giúp giảm thiểu thiệt hại trong các tình huống khẩn cấp.

Tại hội nghị, các đại biểu đã được lắng nghe câu chuyện thực tế từ những người hưởng lợi. Ông Vũ Tấn Sửu, một hộ dân tại xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa chia sẻ, nhờ mô hình nuôi ong lấy mật được hỗ trợ từ dự án, gia đình ông không chỉ có sinh kế ổn định, mà còn hiểu rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ rừng ngập mặn. Tương tự, bà Hoàng Thị Thoàn, 75 tuổi, tại huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế cho biết, ngôi nhà chống chịu bão lụt dự án hỗ trợ đã giúp bà an tâm hơn trong mùa mưa bão, mang lại sự ổn định và hy vọng trong cuộc sống.

Phát biểu tại hội nghị, ông Nguyễn Văn Tiến, Phó cục trưởng Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai, Giám đốc dự án nhấn mạnh: “Dự án này là minh chứng rõ ràng cho sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên, vượt qua nhiều khó khăn để đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, thách thức đặt ra là làm thế nào để những khu vực dễ bị tổn thương khác của Việt Nam cũng có được khả năng chống chịu tương tự. Chúng tôi hy vọng UNDP và các tổ chức quốc tế sẽ tiếp tục phối hợp để nhân rộng sáng kiến này trên toàn quốc, mang lại sự an toàn và bền vững cho người dân Việt Nam trước những thiên tai ngày càng khắc nghiệt”.

Chú thích ảnh
Bà Ramla Khalidi, Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam phát biểu tại chương trình.

Bà Ramla Khalidi, Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam chia sẻ: “Khi chúng ta kết thúc dự án, chúng ta được nhắc nhở rằng các cộng đồng ven biển Việt Nam đang phải đối mặt với những tác động ngày càng gia tăng của biến đổi khí hậu. Dự án đã cho thấy rằng, khả năng chống chịu không chỉ là mục tiêu, mà còn có thể đạt được thông qua sự hợp tác, đổi mới và cam kết không ngừng nghỉ của các bên liên quan. UNDP cam kết tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam để xây dựng những cộng đồng bền vững, đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu”.

Hội nghị không chỉ là dịp nhìn lại những thành tựu đạt được mà còn mở ra các thảo luận quan trọng về cơ hội nhân rộng và đảm bảo tính bền vững của những kết quả đã đạt được. Các đại biểu nhấn mạnh sự thành công của dự án đến từ các giải pháp kỹ thuật, sự tham gia tích cực của cộng đồng và sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan. Những bài học từ dự án sẽ được tích hợp vào các chương trình quốc gia như Chương trình Bảo vệ và Phát triển rừng ven biển thích ứng với biến đổi khí hậu, đảm bảo tính bền vững, mở rộng phạm vi hỗ trợ, góp phần xây dựng các cộng đồng ven biển mạnh mẽ hơn trước những thách thức trong tương lai.

Thu Trang/Báo Tin tức

Dành cho bạn

Áp lực chống buôn lậu thuốc lá trước lộ trình tăng thuế

Áp lực chống buôn lậu thuốc lá trước lộ trình tăng thuế

Lộ trình tăng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá từ năm 2027 đặt ra yêu cầu cấp thiết về kiểm soát buôn lậu, nhất là tại các địa phương có tuyến biên giới dài tiếp giáp Campuchia như Tây Ninh, nguy cơ gia tăng hàng nhập lậu đang trở thành vấn đề cần được quan tâm.

Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026: Tháo gỡ điểm nghẽn để phát triển kinh tế tầm thấp

Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2026: Tháo gỡ điểm nghẽn để phát triển kinh tế tầm thấp

Kinh tế tầm thấp, với nền tảng là phương tiện bay không người lái, hệ thống tự hành, hạ tầng kết nối và dữ liệu, đang mở ra không gian tăng trưởng mới cho Việt Nam. Tuy nhiên, để phát triển lĩnh vực này cần giải quyết đồng bộ các vấn đề về thể chế, hạ tầng kỹ thuật, thị trường và hiệu quả kinh tế.

Giá khí đốt châu Âu chạm mức cao nhất kể từ năm 2022

Giá khí đốt châu Âu chạm mức cao nhất kể từ năm 2022

Giá khí đốt tự nhiên tại châu Âu đã vượt mốc 97 euro/megawatt giờ (MWh), mức cao nhất kể từ năm 2022, trong bối cảnh gia tăng lo ngại về khả năng đảm bảo nguồn cung trong mùa Đông và những diễn biến phức tạp tại Trung Đông.

Hiệp định Việt Nam - EFTA: Đòn bẩy nâng chuỗi giá trị cơ khí, điện tử

Hiệp định Việt Nam - EFTA: Đòn bẩy nâng chuỗi giá trị cơ khí, điện tử

Trong các thỏa thuận thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam đã ký kết, dư luận thường dành sự chú ý lớn cho các mặt hàng xuất khẩu truyền thống như nông, thủy sản hay dệt may. Tuy nhiên, nhìn sâu vào cơ cấu giao thương giữa Việt Nam và Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA), thiết bị điện tử và linh kiện cơ khí là nhóm ngành mang lại dư địa phát triển mang tính chiến lược.