Vùng Đông Nam Bộ - Bài cuối: Cần cơ chế điều phối có trách nhiệm

Với vai trò vị trí là vùng động lực tăng trưởng lớn của cả nước, yêu cầu đặt ra đối với vùng Đông Nam Bộ nói chung, các địa phương trong vùng nói riêng là hết sức nặng nề. Liên quan đến vấn đề này, đặc biệt là triển khai có hiệu quả Nghị quyết 27-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới, Quyết định 615/QĐ-TTg ngày 4/4/2026 về điều chỉnh Quy hoạch vùng Đông Nam Bộ và các Nghị quyết chiến lược, trọng tâm khác.

Để làm rõ thêm các nội dung này, phóng viên TTXVN tại TP Hồ Chí Minh đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Vũ Tuấn Hưng, Viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, một trong những đơn vị hàng đầu của khu vực phía Nam cũng như cả nước về nghiên cứu, cung cấp luận cứ khoa học cho hoạch định chính sách phát triển bền vững quốc gia và vùng.

PGS.TS Vũ Tuấn Hưng, Viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), nhìn nhận sự liên kết vùng không chỉ nằm ở việc thống nhất về chủ trương mà cần được cụ thể hóa bằng cơ chế, kế hoạch và nguồn lực. Ảnh: Diệu Thúy/TTXVN
PGS.TS Vũ Tuấn Hưng, Viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), nhìn nhận sự liên kết vùng không chỉ nằm ở việc thống nhất về chủ trương mà cần được cụ thể hóa bằng cơ chế, kế hoạch và nguồn lực. Ảnh: Diệu Thúy/TTXVN

Vùng Đông Nam Bộ được xác định là vùng động lực tăng trưởng lớn nhất cả nước, nhưng thực tế liên kết giữa các địa phương vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Theo ông, đâu là những điểm nghẽn căn bản nhất khiến các địa phương chưa thể vận hành như một không gian kinh tế thống nhất?

Đúng vậy, vùng Đông Nam Bộ là vùng động lực tăng trưởng lớn nhất cả nước, nhưng thực tế liên kết giữa các địa phương còn nhiều hạn chế và chưa tương xứng với vai trò động lực này. Từ những nghiên cứu và quan sát thực tế, theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không nằm ở một yếu tố riêng lẻ mà là sự cộng hưởng của thể chế điều phối chưa đủ mạnh, quy hoạch chưa thực sự đồng bộ và tư duy phát triển còn nặng theo địa giới hành chính; trong đó, vấn đề cốt lõi là chưa hình thành được một cơ chế, một cơ quan đủ mạnh để các địa phương cùng thống nhất về ưu tiên phát triển, phân công chức năng và chia sẻ lợi ích trong một không gian kinh tế chung.

Hạ tầng kết nối, nhất là giao thông liên vùng, logistics và các hạ tầng chiến lược vẫn còn những điểm nghẽn làm tăng chi phí và hạn chế khả năng kết nối chuỗi giá trị. Trong khi đó, nguồn lực đầu tư còn có nguy cơ phân tán, mỗi địa phương ưu tiên những dự án phục vụ mục tiêu riêng thay vì tối ưu hóa lợi ích toàn vùng.

Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là “liên kết với nhau” mà phải “cùng vận hành như một không gian phát triển”. Muốn vậy, cần đổi mới mạnh mẽ cơ chế điều phối vùng, đồng bộ quy hoạch, tập trung nguồn lực cho các công trình có tính lan tỏa và xây dựng cơ chế phân công, chia sẻ lợi ích rõ ràng giữa các địa phương. Đây chính là điều kiện để vùng Đông Nam Bộ phát huy đầy đủ vai trò cực tăng trưởng của cả nước. Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới sẽ là thể chế quan trọng để tạo cơ hội khắc phục những hạn chế và phát huy tối đa thế mạnh, tiềm năng của các vùng và địa phương.

Nếu chuyển từ tư duy “mỗi địa phương phát triển một thế mạnh” sang tổ chức phát triển theo chuỗi giá trị, vùng Đông Nam Bộ nên thiết kế lại sự phân công giữa TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Tây Ninh như thế nào và những chuỗi nào cần được ưu tiên hình thành trước thưa ông?

Trên tinh thần và định hướng quan trọng của Nghị quyết 27-NQ/TW, cần chuyển từ tư duy “mỗi địa phương làm một phần” sang phân công theo chuỗi giá trị và lợi thế không gian; trong đó, TP. Hồ Chí Minh giữ vai trò trung tâm về tài chính, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, dịch vụ chất lượng cao và điều phối các chuỗi giá trị; Đồng Nai phát huy mạnh lợi thế về công nghiệp công nghệ cao, logistics, cảng biển và hàng không, gắn với Cảng hàng không quốc tế Long Thành; Tây Ninh tập trung phát triển công nghiệp, logistics cửa khẩu, nông nghiệp công nghệ cao và kết nối với không gian kinh tế phía Tây của vùng.

Trước mắt, tôi cho rằng nên ưu tiên hai chuỗi có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa lớn: thứ nhất là chuỗi công nghiệp công nghệ cao - R&D (nghiên cứu và phát triển) - logistics - cảng biển - hàng không; thứ hai là chuỗi tài chính - khoa học công nghệ - đổi mới sáng tạo - dịch vụ chất lượng cao. Đồng thời, cần hình thành các hành lang phát triển công nghiệp - đô thị - dịch vụ liên kết giữa ba địa phương.

Điều quan trọng là không để mỗi địa phương chạy đua thu hút toàn bộ các khâu của chuỗi, mà phải phân công rõ chức năng, kết nối hạ tầng và chia sẻ lợi ích, để cùng tạo nên một hệ sinh thái kinh tế thống nhất, có sức cạnh tranh ở cấp khu vực và quốc tế. Từ đó tạo điều kiện khơi thông các nguồn lực, lợi thế tiềm năng phù hợp để phát triển vùng và mỗi địa phương một cách bền vững.

Một vùng Đông Nam Bộ phát triển nhanh nhưng tách khỏi các vùng xung quanh sẽ khó tạo được sức lan tỏa quốc gia. Theo ông, vùng Đông Nam Bộ cần liên kết với Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ theo những chuỗi giá trị nào để vừa khai thác nguồn lực của các vùng, vừa tạo thị trường và không gian phát triển mới?

Theo tôi, vùng Đông Nam Bộ muốn trở thành cực tăng trưởng có sức lan tỏa quốc gia thì phải được đặt trong mạng lưới liên kết kinh tế rộng hơn, thay vì phát triển như một “ốc đảo tăng trưởng”. Có thể hình thành ba nhóm liên kết chính.

Với Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ cần kết nối sâu hơn các chuỗi nông nghiệp công nghệ cao - chế biến - logistics - thương mại và xuất khẩu; trong đó, Đông Nam Bộ cung cấp thị trường, công nghệ, tài chính, dịch vụ logistics và hệ thống phân phối; ngược lại, Đồng bằng sông Cửu Long cung cấp nguồn nguyên liệu, thực phẩm và các sản phẩm nông nghiệp có giá trị cao.

Với Tây Nguyên, trọng tâm là chuỗi nông - lâm nghiệp, chế biến sâu, năng lượng tái tạo và logistics, kết nối nguồn nguyên liệu với công nghệ, vốn, thị trường và các trung tâm chế biến, tiêu thụ của Đông Nam Bộ. Với Duyên hải Nam Trung Bộ, cần thúc đẩy các chuỗi kinh tế biển, cảng biển - logistics, du lịch, năng lượng và công nghiệp, tạo mạng lưới kết nối ven biển với Đông Nam Bộ.

Như vậy, các vùng cung cấp cho vùng Đông Nam Bộ nguồn nguyên liệu, năng lượng, không gian sản xuất và thị trường bổ trợ; còn Đông Nam Bộ cung cấp vốn, công nghệ, dịch vụ, hạ tầng logistics, thị trường và năng lực chế biến. Cốt lõi là chuyển từ quan hệ “trao đổi sản phẩm” sang cùng tham gia một chuỗi giá trị và cùng tạo ra giá trị gia tăng, qua đó mở rộng không gian phát triển của cả khu vực phía Nam.

Nghị quyết 27-NQ/TW của Bộ Chính trị tiếp tục đặt ra yêu cầu vấn đề tổ chức lại không gian phát triển, phát huy vai trò của các cực tăng trưởng và các hành lang kinh tế. Theo ông, vùng Đông Nam Bộ cần một cơ chế điều phối như thế nào để biến liên kết vùng thành những chương trình, dự án và nguồn lực cụ thể? Có cần một đầu mối đủ thẩm quyền, cơ chế ngân sách cho các dự án liên vùng, cơ chế chia sẻ lợi ích - trách nhiệm và phân cấp, phân quyền mạnh hơn hay không?

Theo tôi, muốn liên kết vùng đi vào thực chất thì cần chuyển từ “cơ chế phối hợp” sang “cơ chế điều phối có trách nhiệm và nguồn lực”. Vùng Đông Nam Bộ cần một đầu mối điều phối đủ thẩm quyền để thống nhất các ưu tiên phát triển, điều phối quy hoạch, lựa chọn danh mục dự án liên vùng và theo dõi tiến độ thực hiện; đồng thời phải có cơ chế để các quyết định điều phối được các địa phương thực hiện thống nhất.

Cùng đó, cần hình thành nguồn lực tài chính cho phát triển liên vùng, có thể nghiên cứu Quỹ phát triển vùng hoặc cơ chế ngân sách riêng cho một số chương trình, dự án có tính lan tỏa cao như giao thông kết nối, logistics, xử lý môi trường, hạ tầng số và các hành lang kinh tế. Đặc biệt, cần áp dụng nguyên tắc “chia sẻ chi phí - chia sẻ lợi ích - chia sẻ trách nhiệm”, bảo đảm địa phương đóng góp nguồn lực có cơ chế hưởng lợi phù hợp và địa phương hưởng lợi lớn có trách nhiệm tương xứng.

Tôi cho rằng cũng cần phân cấp, phân quyền mạnh hơn đi đôi với cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá bằng kết quả. Khi có đầu mối điều phối, có nguồn lực và có trách nhiệm giải trình rõ ràng, liên kết vùng mới chuyển từ những cam kết trên giấy thành các chương trình, dự án cụ thể và tạo ra giá trị chung cho toàn vùng. Phải có cơ quan, thể chế, cơ chế đủ mạnh và phù hợp mới kích hoạt được đầy đủ các lợi thế, tiềm năng, nguồn lực tập trung để phát triển.

Vùng Đông Nam Bộ đang được đặt trước yêu cầu không chỉ giữ vai trò đầu tàu mà phải tạo động lực tăng trưởng mới cho cả nước. Từ góc độ nghiên cứu vùng, theo ông, vùng Đông Nam Bộ cần có những bước đột phá nào để tạo tác động lớn nhất đến tăng trưởng trong thời gian tới; trong đó, đâu là một cơ chế mà nếu được Trung ương tháo gỡ ngay sẽ tạo ra sự thay đổi lớn nhất đối với năng lực tăng trưởng của toàn vùng?

Theo tôi, vùng Đông Nam Bộ cần tập trung vào ba đột phá có tính nền tảng và lan tỏa cao.

Thứ nhất, đột phá về hạ tầng kết nối, nhất là các tuyến giao thông liên vùng, cảng biển, hàng không, logistics và hạ tầng số, qua đó giảm chi phí lưu thông và mở rộng không gian kinh tế.

Thứ hai, đột phá về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao, hình thành hệ sinh thái liên kết giữa các trung tâm nghiên cứu, đại học, doanh nghiệp và các địa phương, tạo động lực cho những ngành có giá trị gia tăng cao.

Thứ ba, đột phá về thể chế và cơ chế điều phối vùng, chuyển mạnh từ tư duy quản lý theo địa giới sang quản trị theo không gian kinh tế và chuỗi giá trị; đồng thời tạo cơ chế huy động, phân bổ và chia sẻ nguồn lực cho các dự án liên vùng.

Nếu phải lựa chọn một cơ chế cần được Trung ương tháo gỡ sớm, tôi cho rằng đó là cơ chế điều phối và phân bổ nguồn lực cấp vùng. Khi đầu mối điều phối có đủ thẩm quyền, có nguồn lực và cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng, chúng ta mới có thể giải quyết đồng thời những vấn đề về quy hoạch, hạ tầng và phân công phát triển. Nói cách khác, thể chế điều phối chính là “đòn bẩy” để kích hoạt các nguồn lực khác, giúp Đông Nam Bộ chuyển từ một tập hợp các cực tăng trưởng thành một không gian kinh tế có tính tích hợp và sức lan tỏa cao. Từ đó là điều kiện quan trọng để khơi thông mọi nguồn lực, lợi thế tiềm năng từng địa phương và vùng thúc đẩy phát triển trong bối cảnh mới hiện nay.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Hoàng Anh Tuấn/TTXVN (thực hiện)

Dành cho bạn

Giá dầu thô giảm dưới 100 USD trước kỳ vọng ngoại giao Mỹ - Iran

Giá dầu thô giảm dưới 100 USD trước kỳ vọng ngoại giao Mỹ - Iran

Giá dầu thô thế giới giảm xuống mức thấp nhất trong hơn một tuần vào phiên giao dịch ngày 21/9, khi giới giao dịch đặt kỳ vọng vào những tiến triển ngoại giao bên lề kỳ họp Đại hội đồng Liên hợp quốc, qua đó giúp loại bỏ dần các chi phí bù đắp rủi ro địa chính trị khỏi thị trường.

Niềm tin, khí thế mới từ chính quyền đô thị

Niềm tin, khí thế mới từ chính quyền đô thị

Thành phố Bắc Ninh đang đứng trước không gian phát triển mới, với nền tảng công nghiệp, hạ tầng, nhân lực, khả năng hút đầu tư và chiều sâu văn hóa đã được tích lũy qua nhiều thế hệ.