Từng tham gia đánh chiếm đồi Độc Lập trong chiến dịch Điện Biên Phủ, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang diễn ra ác liệt tại chiến trường miền Nam, ông để lại người vợ trẻ mới cưới ở miền Bắc để lên đường vào Nam chiến đấu. Để rồi, ông lại “bén duyên” với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, khi ông chỉ huy trận chiến ở thị trấn Xuân Lộc (nay là thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai) - nơi mệnh danh là “cánh cửa thép” của Mỹ Ngụy, bởi “mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn”. Ông là Trung tướng Lê Nam Phong, người có nhiều biệt danh, trong đó biệt danh “Đại đội trưởng đầu trọc” được đặt trong chiến dịch Điện Biên Phủ và “Ông Năm hỏa lực” tại các chiến trường miền Nam.
Rời đồi Độc Lập...
Kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung tướng Lê Nam Phong từ Tây Bắc về tiếp quản Thủ đô. Tuy nhiên không lâu sau, cả nước lại lên đường đánh Mỹ. Thế là năm 1964, vị “Đại đội trưởng đầu trọc” ngày nào lại xung phong lên đường vào Nam chiến đấu. Với tinh thần chiến đấu quả cảm và tài trí mưu lược, ông trở thành Trung đoàn trưởng Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 7, tham gia những trận đánh ác liệt như Bàu Bàng, Bông Trang, Nhà Đỏ... đến xây dựng “lũy thép” Tàu Ô - Xóm Ruộng trong chiến dịch Nguyễn Huệ khiến Mỹ Ngụy phải khiếp sợ.
Trung tướng Lê Nam Phong (bìa trái) vinh dự được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong một lần kỉ niệm ngày giải phóng miền Nam 30/4 tại Dinh Độc Lập. |
“Đường 13 - con đường chiến lược xuyên Đông Dương, cũng là nơi đối đầu giữa các sư đoàn chủ lực quân giải phóng và các sư đoàn thiện chiến của Mỹ - Ngụy. Tại đây, hỏa lực bộ binh của ta chọi với xe bọc thép, xe tăng của địch; ý chí con người chống lại bom tấn, pháo bầy, B52 rải thảm. Vùng đất Tàu Ô - Xóm Ruộng bị bom, pháo địch cầy đi xới lại tơi tả. Tuy nhiên, bất chấp thương vong, quân ta vẫn xác định “Thắng ở đây mà thua cũng ở đây”. Vì vậy, các cán bộ chiến sỹ Sư đoàn 7 đã cùng nhân dân địa phương kề vai sát cánh, ngày đêm đắp chốt, đào hầm xây dựng “lũy thép” Tàu Ô - Xóm Ruộng. Cuối cùng quân ta đã xây dựng được bức tường thép chặn đứng mọi đường tiến của địch và giữ được vùng giải phóng Lộc Ninh (Bình Phước bây giờ)”, ông nhớ lại.
Vào tháng 1/1973, để chống lại quân giải phóng tại vùng “Tam giác sắt” (khu vực bờ hữu sông Sài Gòn thuộc ba huyện Củ Chi, Bến Cát, Dầu Tiếng) Mỹ Ngụy đã mở ba mũi tiến công với máy bay B52, pháo bầy, tăng thiết giáp cùng ba chiến đoàn của Sư đoàn 25, Sư đoàn 5 Ngụy quân... Nhưng dưới sự chỉ huy của Trung tướng Lê Nam Phong, Sư đoàn 7 đã mưu trí, sáng tạo đập tan các mũi tiến công của địch và lập chiến công xuất sắc, giữ vững vùng giải phóng, góp phần quan trọng trên mặt trận ngoại giao trong thời điểm chuẩn bị ký kết Hiệp định Paris.
“Để cổ vũ tinh thần các chiến sỹ và vinh danh chiến thắng này, Bộ Tư lệnh Miền đã tặng thưởng Sư đoàn 7 Huân chương Quân công hạng Nhì. Đồng thời, khắp mặt trận miền Nam đều tôn vinh Sư đoàn 7 là "Quả đấm thép miền Đông", còn Sư đoàn trưởng được mọi người gọi là "Ông Năm hỏa lực", Trung tướng Lê Nam Phong tự hào.
... đến Dinh Độc Lập
Tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh - Giải phóng miền Nam, với cương vị là Tư lệnh Sư đoàn 7 (thuộc Quân đoàn 4), ông trực tiếp chỉ huy trận đánh giải phóng thị xã Xuân Lộc, mở cửa ngõ cho quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn. “Cuối tháng 3/1975, sau khi giải phóng Lâm Đồng, chúng tôi được lệnh quay về xuôi để tham gia trận đánh quan trọng là phá tan "cánh cửa thép" Xuân Lộc. Lúc này, để giữ Xuân Lộc và bảo vệ Sài Gòn, chính quyền Ngụy đã bố trí tại đây lực lượng và phương tiện phòng ngự mạnh nhất. Bao gồm Sư đoàn 18 bộ binh, Lữ đoàn 1 dù, Liên đoàn 3 biệt động quân... với khoảng 12.000 quân, biến Xuân Lộc thành nơi "tử thủ" để bảo vệ Sài Gòn”, ông Phong nhớ lại.
Mỗi lần nhắc tới các trận đánh Mỹ - Ngụy tại miền Nam, Trung tướng Nam Phong lại xúc động nhớ về những người đồng đội của mình. |
Rồi ông kể: Vào ngày 9/4, quân ta bắt đầu đánh vào Xuân Lộc. Tuy nhiên, do ta đánh giá chưa đúng tương quan lực lượng của địch và địch có tăng cường viện binh, đánh trả quyết liệt nên quân ta gặp không ít tổn thất và không hoàn thành được mục tiêu đề ra. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Miền và Bộ Chỉ huy chiến dịch đã thay đổi cách đánh mới là chia cắt và cô lập lực lượng quân Ngụy. Cách đánh mới được thực hiện từ ngày 12/4. Theo đó, các chiến sỹ Sư đoàn 7 đã phối hợp với nhiều lực lượng đánh vòng ngoài, chặn cắt các ngả đường tiếp tế, chia cắt Xuân Lộc với Biên Hòa, đập tan toàn bộ các đợt phản kích của quân đội Sài Gòn. Rạng sáng 21/4, lực lượng còn lại của quân đội Ngụy tháo chạy, Xuân Lộc được giải phóng. Thế là trong suốt 13 ngày đêm ròng rã, tất cả lực lượng của ta đã đập tan “cánh cửa thép Xuân Lộc”, mở được cửa ngõ quan trọng để quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn.
| Sau ngày đất nước thống nhất, Trung tướng Lê Nam Phong lại lên đường tham gia bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc, giúp bạn Campuchia thoát nạn diệt chủng. Năm 60 tuổi, ông chuyển về làm Giám đốc Trường Sĩ quan lục quân 2 cho đến khi nghỉ hưu. Ở cái tuổi thất thập cổ lai hy nhưng mỗi khi nhắc lại những kí ức tại các chiến trường ác liệt như Điện Biên Phủ, Tàu Ô - Xóm Ruộng, Xuân Lộc, Dinh Độc Lập… đôi mắt ông lại sáng bừng lên niềm tự hào và vinh dự. |
Sư đoàn 7 của Trung tướng Lê Nam Phong nhanh chóng tiến về Sài Gòn để hội cùng các cánh quân đánh chiếm Dinh Độc Lập. “Trên đường tiến vào Sài Gòn, cánh quân của chúng tôi đã bị chậm lại do quân đội Ngụy ngoan cố chống trả tại các khu vực ngoại thành. Khi tới cầu Ghềnh (Biên Hòa, Đồng Nai), vì cầu quá hẹp, xe tăng không lọt qua được, cho nên tôi đã nhanh chóng lệnh cho các chiến sỹ bỏ đường Biên Hòa - Thủ Đức, quay ra đường khác đi. Tuy nhiên, cánh quân của chúng tôi vẫn không kịp tiến vào vào cắm cờ chiến thắng trên Dinh Độc Lập. Bởi vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/4 lịch sử, Quân đoàn 2 đã vào trước và đã cắm lá cờ Quân giải phóng trên nóc Dinh Độc Lập. Trong khi đó, đúng 12 giờ trưa chúng tôi mới đến Dinh Độc Lập.
Dù chiến tranh đã lùi xa, nhưng cảm giác đất nước thống nhất trong cảm nhận của vị tướng vẫn còn nguyên vẹn. “Ngày 30/4, khi vừa đặt chân đến Dinh Độc Lập thấy cánh cổng bị phá sập, tôi chỉ muốn hét thật to cho thỏa lòng bao năm chờ đợi. Bao nhiêu năm tôi và đồng đội chiến đấu gian khổ chỉ mong có ngày ấy, nhưng tôi chỉ biết đứng lặng nhìn mọi người đang hân hoan vui mừng mà nước mắt cứ trào ra. Cảm giác của tôi lúc đó rất vui sướng và hạnh phúc giống y như cái ngày tôi đứng trước đồi Độc Lập khi chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng. Tôi rất vinh dự và tự hào khi mình được tham gia chiến đấu từ đồi Độc Lập đến Dinh Độc Lập và đặc biệt là đã cùng đồng đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cao cả mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân giao phó”, ông bồi hồi chia sẻ.
Bài và ảnh:H.Tuyết- Đ.Phương