Chiến khu D, xã Mã Đà, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai được mệnh danh là “Việt Bắc của miền Nam”, một trong hai căn cứ quân sự quan trọng bậc nhất của miền Đông Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cũng chính nơi đây đã ấp ôm hình hài của hàng nghìn người con ưu tú, trung kiên của đất nước. Tuy nhiên, dù hy sinh nhưng các anh lại không có một bia mộ nào được khắc tên.
Kỳ lạ Nghĩa trang không bia mộ
Sau hơn 80km đường trường xuất phát từ Quận 9 (TP.HCM), chúng tôi mới đến được thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Từ đây đổ vào Trung tâm xã Mã Đà phải mất thêm khoảng 40km nữa. Tuy nhiên, nếu không có sự chỉ dẫn của “hoa tiêu” Nguyễn Đại Dương, nhân viên Trung tâm sinh thái, văn hóa, lịch sử Chiến khu D thì chúng tôi khó lòng mà đặt chân được đến được mảnh đất này. Bởi, đường đi toàn đường rừng, dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm, không bóng người qua lại, chỉ có tiếng chim rừng kêu quang quác.
Muốn vào khu di tích Chiến khu D phải băng rừng, lội nước ngập ngang người. |
Thậm chí, có đoạn ngập nước, chúng tôi đành bỏ lại xe máy ven bìa rừng, ba lô đội lên đầu, xách giày dép, bì bõm lội qua dòng nước đục ngầu, sâu đến ngang người. Vừa lội anh Dương vừa giải thích: “Chỉ cần có một trận mưa đi ngang là nơi đây hoàn toàn bị cô lập. Vì thế, cả tháng trời chẳng có ai vào thăm viếng nghĩa trang”. Và phải thêm một chặng lội nước như vậy nữa, chúng tôi mới tới được khu di tích Chiến khu D.
Đón tiếp chúng tôi là 8 cán bộ đang làm việc ở khu di tích. Họ ở độ tuổi khác nhau, đến từ khắp mọi nơi tụ họp về đây sống trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn đủ thứ nhưng đều có chung một nhiệt huyết là giữ rừng và chăm nom cho những phần mộ của những liệt sỹ đã ngã xuống.
Có thâm niên lâu nhất phải kể đến Trạm phó Khu Di tích Trung ương cục Miền Nam Trần Văn Tuấn. Chú Tuấn đã có hơn 10 năm sinh sống và làm việc tại nơi này. Bởi vậy mà chú có nhiều cơ hội được gặp gỡ và tiếp xúc với những nhân chứng sống của mặt trận “Việt Bắc miền Nam”. Chú kể, nơi đây được gọi là “Mã Đà sơn cước” với thời tiết vô cùng khắc nghiệt. Ngày nóng như đổ lửa nhưng đêm lạnh buốt thấu xương, sương mù giăng phủ khắp nơi, muỗi kêu tựa sáo vỗ. Đặc biệt, mùa mưa thường kéo dài đến 6 tháng, từ tháng 5 đến tháng 10, mưa dai dẳng suốt ngày đêm khiến sông suối trở nên hung dữ, nước tung bờm ngựa như cuốn phăng tất cả. Chẳng thế mà, nơi đây còn được ví như cái nôi của sốt rét, từng cướp đi sinh mạng của nhiều chiến sĩ.
Qua những con đường mòn ẩm ướt hơi sương, chú Tuấn dẫn chúng tôi đến thăm khu Nghĩa trang liệt sỹ Mã Đà, với diện tích rộng gần 2,5 héc-ta. Chú bùi ngùi nói: “Cho đến bây giờ, người ta cũng không thể biết được nơi đây có biết bao nhiêu ngàn chiến sỹ đã nằm xuống. Bởi có nhiều chiến sỹ hy sinh trên khắp các mặt trận miền Nam được đồng đội đưa về đây chôn cất tạm, rồi hẹn một ngày khi đất nước toàn thắng sẽ quay lại đưa các anh về với quê hương. Thế nhưng, hết trận đánh này đến trận đánh khác, hết người này hy sinh đến người kia ngã xuống. Bom đạn kẻ thù ngày đêm gào rú, nã xuống Chiến khu D, xé toang vạt rừng khiến nơi các anh nằm chưa kịp xanh cỏ đã bị xóa nhòa dấu vết. Thế nên, nói là nghĩa trang cho ấm lòng vậy chứ có ngôi mộ, tấm bia nào đâu”.
Đền thờ các liệt sỹ tại Nghĩa trang Mã Đà. |
Bà Sáu Liên từng làm y tá ở Chiến khu D cũng cho biết, nơi đây không biết bao nhiêu chiến sỹ phải nằm xuống, thậm chí một ngày có đến hơn 200 chiến sỹ hy sinh. Tuy nhiên, đến nay mới chỉ có khoảng hơn 20 ngôi mộ được gia đình các liệt sỹ tìm thấy mang về chôn cất tại nghĩa trang quê nhà. Bởi vậy, nơi đây còn được gọi là “Nghĩa trang không mộ”.
Chỉ vào một phần mộ duy nhất có họ tên tại đây, chú Tuấn bảo đó là ngôi mộ của liệt sỹ Nguyễn Sỹ Việt (1950 – 1969), quê ở Nghệ An. Vị Trạm phó kể, gia đình liệt sỹ Việt sau nhiều lần đi tìm kiếm, đến năm 2009 được nhà ngoại cảm Năm Nghĩa ở Vũng Tàu mách rằng, hiện liệt sỹ Việt đang nằm ở nghĩa trang Mã Đà nhưng nếu gia đình không đến sớm thì chỉ qua một đợt mưa nữa, xương cốt sẽ bị trôi hết, không còn gì. Và khi gia đình tìm đến, xác định một phần đất nằm ven bên suối chỉ còn mấy đốt ngón xương tay cùng mấy chiếc răng, còn phần đầu lại nằm dưới lòng suối, chân và tay lại nằm ở triền suối. Sau đó, liệt sỹ Việt được đưa về quê hương an táng và gia đình có gửi lại một bức hình anh để tiện thắp nhang.
Vươn xanh Mã Đà
Trao đổi với phóng viên, bà Đinh Thị Lan Hương, Phó Giám đốc Trung tâm sinh thái văn hóa, lịch sử Chiến khu D cho hay, mỗi năm có rất nhiều nhà ngoại cảm ở khắp các nơi đổ về tìm kiếm các hài cốt liệt sỹ. Tuy nhiên, đến nay mới chỉ có hơn 10 ngôi mộ được tìm thấy và đưa về quê hương. Hiện tại Trung tâm cũng mời nhà ngoại cảm về đây xác định vị trí chỗ nào là nơi liêt sỹ nằm xuống và chỗ nào là nơi các gia đình liệt sỹ đã di dời hài cốt để xin đắp lại ngôi mộ giả.
Bên cạnh nghĩa trang Mã Đà, một điểm đặc biệt thu hút chúng tôi là hồ nước hình chữ S bên cạnh đền thờ các liệt sỹ. Trạm phó Tuấn cho biết, hồ được khánh thành vào tháng 10/2014, đây là ý tưởng của chú Sáu Phương, tên thật là Nguyễn Trùng Phương, nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai – Trưởng ban quản lý Chiến khu D. Chú Sáu Phương tâm niệm rằng, các chiến sĩ hy sinh tại chiến trường này ở mọi độ tuổi, ở khắp miền quê hương, từ Bắc vào Nam. Thế nhưng, đến nay còn hàng ngàn chiến sĩ vẫn chưa được gia đình tìm thấy, chưa được về với đất Mẹ. Vì vậy, hồ nước hình chữ S này tượng trưng cho bản đồ Tổ quốc, mọi mảnh đất đều nằm ở đây và khi nhìn vào bản đồ ấy, các anh sẽ thấy quê hương nằm ngay cạnh các anh.
Mô hình hồ nước hình chữ S sẽ giúp ấm lòng các chiến sĩ đã hy sinh tại Chiến khu D năm xưa. |
Chiều tàn, chia tay các cán bộ khu quản lý chúng tôi ra về. Có tiếng con chim bồ chao kêu quang quác, những âm thanh kỳ lạ của rừng già. Mùi đất rừng, mùi lá cây mục nát hăng hắc bốc lên. Phóng tầm mắt sang hai bên, vẫn dễ dàng cảm nhận được sức sống mãnh liệt của những loài cây đã ăn sâu bám rễ vào rừng già hàng trăm năm nay. Thế mà xưa kia nơi đây chỉ toàn là những vạt rừng cháy nham nhở bởi bom đạn kẻ thù.
Chỉ vào những thân cây cổ thụ, anh Nguyễn Đại Dương tự hào nói, kia là cây Bá Bệnh, cây Lành Ngạnh… những loại cây này chỉ có chiến khu D mới có. Vừa đi anh vừa giục chúng tôi đi nhanh kẻo trời tối lại gặp thú rừng xông ra. “Ở đây mà gặp rắn độc, bọ cạp, khỉ, voọc, cá bơn, lưỡi mèo là chuyện quá thường tình. Kể cả voi rừng từng đàn còn kéo về sát chốt, có những nhà dân còn bị voi vào ăn hết muối. Gặp được bò tót mới là điều hiếm kìa”, anh Dương hào hứng kể.
Anh tiếp, cách đây không lâu, có một đồng chí tỉnh ủy Đồng Nai khi vào thăm khu di tích gặp ngay một đàn bò tót ngáng ngang đường. Điều lạ là đàn bò này không hề tỏ ra sợ hãi con người mà ung dung đủng đỉnh băng qua đường khiến đồng chí ấy một phen thất kinh. Cũng theo anh Dương, nơi đây có đến mấy trăm con bò tót thuộc loài quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam. Chúng có cặp sừng cong vút, đầy uy mãnh, thường sống tít trong rừng sâu, họa lắm người dân mới có dịp tận mắt thấy đàn bò chạy ra ngoài đường lớn.
Trên suốt quãng đường rừng mới chỉ xuất hiện lưa thưa một vài ngôi nhà của người Chơ Ro. Già làng Năm Nổi cho biết, xưa kia người Chơ Ro sống bám rừng, đi theo Bộ đội Cụ Hồ hết kháng Pháp lại đến chống Mỹ, lập nên nhiều chiến công hiển hách. Nay người Chơ Ro vẫn bám rừng. Hễ dòng sông chảy đến đâu thì sự sống căng tràn đến đấy. Tuy cuộc sống còn khó khăn nhưng nơi đây, dòng điện đã sáng lên…
Bài, ảnh: H. Tuyết- T. Ngà