Trong giai đoạn 2026 - 2030, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Tuyên Quang được triển khai trên phạm vi toàn tỉnh; trong đó ưu tiên các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu và biên giới. Từ nay đến năm 2030, Tuyên Quang phấn đấu có khoảng 51,28% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, tương đương 60/117 xã; khoảng 3,3% số xã đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại, tương đương 2 xã.
Qua đó, hướng tới mục tiêu xây dựng nông thôn mới bền vững, hiện đại, thực chất, gắn với đô thị hóa, thích ứng biến đổi khí hậu; phát triển kinh tế nông thôn theo hướng xanh, tuần hoàn, sinh thái gắn với tái cơ cấu nông nghiệp, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bao trùm và bền vững, nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống và khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản của người dân; thu hẹp chênh lệch phát triển giữa các địa bàn, nhất là khu vực vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Theo UBND tỉnh Tuyên Quang, tổng nguồn vốn ngân sách Trung ương dự kiến bố trí trực tiếp cho chương trình trong giai đoạn 2026 - 2030 là trên 6.049 tỷ đồng; trong đó vốn đầu tư công trên 4.333 tỷ đồng và kinh phí thường xuyên trên 1.716 tỷ đồng.
Tỉnh cũng huy động nguồn vốn đối ứng ngân sách địa phương và lồng ghép từ các chương trình, dự án khác để bảo đảm nguồn lực thực hiện các mục tiêu. Việc phân bổ nguồn vốn được ưu tiên cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, các xã mục tiêu về đích nông thôn mới, nông thôn mới hiện đại để bảo đảm tập trung, tránh dàn trải, trùng lặp.
Từ nay đến năm 2030, Tuyên Quang phấn đấu số tiêu chí nông thôn mới bình quân chung toàn tỉnh được nâng lên trên 7 tiêu chí/xã; giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia bình quân từ 3%/năm trở lên; giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xuống dưới 10%, hạn chế thấp nhất tình trạng tái nghèo và phát sinh nghèo, nhất là đặt mục tiêu toàn tỉnh cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn.
Thực hiện những mục tiêu này, tỉnh phấn đấu 100% hộ gia đình và cơ sở kinh doanh sử dụng các hình thức thanh toán số, thanh toán không dùng tiền mặt; trên 90% hộ gia đình, cơ sở kinh doanh quảng bá, giới thiệu sản phẩm trên nền tảng số, mạng xã hội và sàn thương mại điện tử; trên 90% hộ gia đình được tiếp cận, sử dụng các nền tảng số phục vụ chăm sóc sức khỏe.
Kinh tế nông thôn phát triển theo hướng sinh thái, hiện đại, tích hợp đa giá trị và thích ứng với thị trường; ưu tiên các mô hình nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn, giảm phát thải; hỗ trợ hợp tác xã, tổ hợp tác ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số, liên kết sản xuất và tiêu thụ. Công nghệ IoT, dữ liệu lớn, truy xuất nguồn gốc bằng mã QR và nhật ký sản xuất điện tử được khuyến khích áp dụng trong các vùng sản xuất hàng hóa.
Các sản phẩm OCOP (Chương trình Mỗi xã một sản phẩm) nâng cao chất lượng, giá trị và tính bản địa, mở rộng tiêu thụ thông qua thương mại điện tử; khoảng 50.000 lượt người lao động được tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí; khoảng 11.000 người được vay vốn hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm hoặc đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Bên cạnh đó, 85% đường từ trung tâm xã đến các thôn, bản được nhựa hóa, bê tông hóa; trên 75% đường thôn và trên 65% đường nội đồng được cứng hóa. Hệ thống thủy lợi được sửa chữa, nâng cấp, bảo đảm phục vụ tưới ổn định khoảng 75.000 ha lúa, rau màu, cây trồng cạn và thủy sản vào năm 2030; trên 99% số thôn, bản được sử dụng điện lưới quốc gia.
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, chương trình tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng, giáo dục, thiết chế văn hóa, phát triển du lịch cộng đồng, hỗ trợ sinh kế, phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực...