Đây là cơ hội để ngành lúa gạo của Cần Thơ nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long cũng như Việt Nam nói chung chuyển sang một nền nông nghiệp xanh, phát thải thấp và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đến nay, toàn thành phố Cần Thơ đã thực hiện được hơn 8.000 ha mô hình vùng nguyên liệu sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp theo Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao trên địa bàn. Nhằm bảo đảm tính minh bạch, truy xuất nguồn gốc và nâng cao giá trị hạt gạo, Cần Thơ sẽ tiến hành cấp mã số vùng trồng lúa trong Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao.
Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao đòi hỏi việc cấp mã số vùng trồng phải gắn với cơ sở dữ liệu số minh bạch và có khả năng xác thực. Để việc cấp mã số vùng trồng lúa triển khai thuận lợi, bà Trần Thị Kim Thúy, Phó Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thành phố Cần Thơ cho biết, ViriCert được lựa chọn làm công cụ số “chấm điểm” và đánh giá tuân thủ quy trình canh tác lúa chất lượng cao, phát thải thấp vì đáp ứng yêu cầu về quản lý vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, giám sát quy trình sản xuất, minh chứng dữ liệu và hỗ trợ chuyển đổi số ngành hàng lúa gạo.
Trong thời gian tới, ngành nông nghiệp thành phố định hướng ưu tiên triển khai ViriCert tại các hợp tác xã thuộc vùng nguyên liệu trọng điểm, đẩy mạnh chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng và hiện đại hóa công tác quản lý. Sự thành công của mô hình đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên: chính quyền địa phương thực hiện quản lý và hậu kiểm; cơ quan chuyên môn hướng dẫn kỹ thuật; hợp tác xã tổ chức sản xuất; nông dân trực tiếp thực hành; doanh nghiệp hỗ trợ bao tiêu; Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) chuyển giao công nghệ; và nền tảng ViriCert đóng vai trò làm cầu nối dữ liệu tập trung cho toàn bộ hệ sinh thái.
Việc được cấp mã số vùng trồng mới chỉ là bước khởi đầu trong chuỗi quản lý sản xuất. Để duy trì mã số này, các vùng canh tác phải liên tục thực hiện công tác tự giám sát, khắc phục sai sót, duy trì nhật ký canh tác và tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật. Đối với Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, mã số vùng trồng đóng vai trò nòng cốt trong việc chuẩn hóa sản xuất, bảo đảm an toàn thực phẩm, phục vụ truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường xuất khẩu.
Song song đó, công cụ ViriCert đóng vai trò như một bộ thu thập dữ liệu số giúp số hóa, giám sát và minh chứng toàn bộ quá trình sản xuất của vùng trồng. Ứng dụng này hỗ trợ đánh giá mức độ tuân thủ quy trình canh tác, chuyển đổi nhật ký giấy sang định dạng điện tử và cung cấp dữ liệu đầu vào quan trọng cho công tác đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) giảm phát thải khí nhà kính. Thực tiễn tại thành phố Cần Thơ, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đã triển khai thí điểm ViriCert tại 30 trên tổng số 171 hợp tác xã tham gia Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp, bước đầu tạo nền tảng minh bạch hóa quy trình canh tác và phục vụ quản lý hiệu quả.
Về quy trình vận hành, dữ liệu được khởi tạo từ từng nông dân thông qua việc cập nhật nhật ký canh tác điện tử, sau đó được hợp tác xã kiểm tra, tổng hợp và lưu trữ tập trung trên hệ thống ViriCert. Cơ sở dữ liệu chuẩn hóa này giúp chính quyền địa phương và cơ quan chuyên môn dễ dàng hậu kiểm, quản lý định vị thửa đất cũng như đánh giá việc tuân thủ quy trình hoàn toàn trên nền tảng số mà không cần thu nộp sổ sách giấy thủ công. Đồng thời, các doanh nghiệp bao tiêu cũng có thể truy xuất nguồn gốc nông sản nhanh chóng để thiết lập chuỗi liên kết tiêu thụ bền vững.
Việc cấp mã số vùng trồng không đơn thuần là một thủ tục hành chính mà đóng vai trò như một cơ sở dữ liệu nền tảng phục vụ quản lý, truy xuất nguồn gốc và thúc đẩy chuyển đổi số trong ngành nông nghiệp./.