Hội thảo tập trung nhìn lại những đóng góp của Thành phố trong 40 năm Đổi mới, đúc kết bài học kinh nghiệm và đề xuất luận cứ khoa học phục vụ định hướng phát triển Thành phố trong giai đoạn mới.
Hội thảo quy tụ các nhà khoa học, chuyên gia, cán bộ quản lý và hoạt động thực tiễn đến từ gần 40 trường đại học, viện nghiên cứu, cơ quan trên cả nước.
Ban tổ chức tiếp nhận 169 tham luận; qua quá trình biên tập và phản biện có 118 tham luận được lựa chọn đưa vào kỷ yếu. Nội dung nghiên cứu được tổ chức thành bốn nhóm vấn đề: lý luận, thể chế và mô hình phát triển; kinh tế; văn hóa và xã hội; đối ngoại, quốc phòng và an ninh.
Các tham luận tiếp cận tiến trình Đổi mới của TP Hồ Chí Minh từ nhiều góc độ, làm rõ mối quan hệ giữa thực tiễn địa phương với quá trình hình thành, phát triển đường lối Đổi mới của Đảng; đồng thời phân tích những thành tựu, hạn chế và kinh nghiệm trong quá trình xây dựng, phát triển Thành phố.
Phát biểu khai mạc, ông Trần Văn Khuyên, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Thành ủy TP Hồ Chí Minh nhấn mạnh, trong suốt tiến trình Đổi mới của đất nước, Thành phố luôn thể hiện vai trò tiên phong, dám đi trước, dám thử nghiệm những mô hình, cơ chế mới xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và đời sống nhân dân.
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thành phố đã đoàn kết, nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, đạt được những thành tựu quan trọng, đóng góp thiết thực vào quá trình đổi mới và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ông Trần Văn Khuyên cũng cho biết, Thành phố tiếp tục phát huy vai trò đầu tàu, là trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, thương mại, văn hóa, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và giáo dục - đào tạo của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước. Trong 9 tháng năm 2026, GRDP Thành phố tăng 9,06%, đóng góp 23,4% GDP cả nước, chiếm 30% tổng thu ngân sách và thu hút 17,8 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, tương đương 30% tổng vốn FDI của cả nước.
Đề cập vai trò của TP Hồ Chí Minh trong giai đoạn trước Đại hội VI của Đảng, Tiến sĩ Lê Hữu Phước, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG TP Hồ Chí Minh) khẳng định, bản lĩnh và tinh thần năng động, sáng tạo của Thành phố đã được thể hiện từ 10 năm trước Đại hội VI. Trong bối cảnh cơ chế quản lý kinh tế còn nhiều ràng buộc, Thành phố đã chủ động tìm tòi, thử nghiệm những mô hình mới, góp phần tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, kinh doanh và đóng góp cả về lý luận lẫn thực tiễn vào quá trình xác lập đường lối Đổi mới về kinh tế.
Theo Tiến sĩ Lê Hữu Phước, những đóng góp thực tiễn của TP Hồ Chí Minh từng được Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt ghi nhận. Sự chuyển hướng trong chính sách kinh tế được Thành phố và một số địa phương chủ động nắm bắt, vận dụng năng động, sáng tạo đã mở ra hướng suy nghĩ và cách làm mới, góp phần thúc đẩy quá trình đổi mới tư duy kinh tế.
Phân tích những chuyển biến kinh tế sau Đại hội VI năm 1986, GS.TS Võ Văn Sen, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh, cho biết Thành phố đã chủ trương phát triển mạnh sản xuất hàng hóa, trước hết là hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu; chuyển hoạt động phân phối, lưu thông sang hạch toán kinh doanh nhằm phục vụ sản xuất và đời sống.
Đáng chú ý, sau khi Nghị định 27 của Hội đồng Bộ trưởng được ban hành, các thành phần kinh tế cá thể trên địa bàn Thành phố có sự phát triển. Năm 1987, Thành phố có 19.542 cơ sở và 172 hộ tiểu thủ công nghiệp; đến cuối năm 1989, số cơ sở tăng lên 20.961, với 81.545 lao động.
Cùng với đó, ngay sau khi Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 được ban hành, Thành phố đã chủ động nghiên cứu mô hình khu chế xuất. Tháng 5/1988, nhóm chuyên gia kinh tế tại TP Hồ Chí Minh xây dựng đề cương thành lập khu chế xuất, trình lãnh đạo Thành phố xem xét. Đề xuất này sau đó được chính quyền Thành phố đồng ý chủ trương nghiên cứu, đưa vào Chương trình phát triển kinh tế đối ngoại của Thành phố thời kỳ 1989 - 1995 và các giai đoạn tiếp theo.
Đây là một trong những bước đi thể hiện sự chủ động, nhạy bén của Thành phố trong mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và thu hút đầu tư.
Nhìn lại chặng đường 40 năm Đổi mới, các tham luận cũng đặt ra yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát huy hiệu quả những nguồn lực mới trong bối cảnh các động lực truyền thống dần bộc lộ giới hạn.
Trong tham luận “40 năm Đổi mới của TP Hồ Chí Minh (1986 - 2026): Chuyển đổi mô hình tăng trưởng - Thực trạng, thách thức và định hướng đột phá”, ông Nguyễn Thành Phong, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh cho rằng, Thành phố đã từng bước chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa trên giải phóng nguồn lực sản xuất, mở cửa, hội nhập, mở rộng vốn, lao động và không gian phát triển sang mô hình dựa nhiều hơn vào năng suất, tri thức và đổi mới sáng tạo.
Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi chưa hoàn tất. Các động lực tăng trưởng truyền thống suy giảm nhanh hơn tốc độ hình thành và lan tỏa của các động lực mới tạo ra khoảng trống chuyển đổi, khiến tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng. Những hạn chế về thể chế, hạ tầng, kết nối và khả năng lan tỏa đổi mới sáng tạo gắn với nguồn nhân lực vẫn là những vấn đề cần được tháo gỡ.
Từ thực tiễn đó, ông Nguyễn Thành Phong nhấn mạnh yêu cầu đổi mới thể chế, nâng cao năng suất và thúc đẩy đổi mới sáng tạo; đồng thời giải phóng, kết nối và sử dụng hiệu quả các nguồn lực để hình thành chu kỳ tăng trưởng mới dựa trên năng suất và giá trị gia tăng cao, tiếp tục phát huy vai trò đầu tàu và cực tăng trưởng quốc gia của Thành phố.
Ở góc độ văn hóa và con người, bà Phạm Phương Thảo, nguyên Phó Bí thư Thành ủy, nguyên Chủ tịch HĐND TP Hồ Chí Minh cho rằng, truyền thống năng động, sáng tạo của Thành phố được hình thành từ quá trình khai phá, đấu tranh và xây dựng, cùng sự giao lưu, hội tụ của nhiều dòng chảy văn hóa. Những phẩm chất như yêu nước, kiên cường, đoàn kết, nghĩa tình, năng động, sáng tạo tiếp tục là nền tảng và động lực cho sự phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.
Theo bà Phạm Phương Thảo, TP Hồ Chí Minh được kỳ vọng tiếp tục tiên phong mở đường về mô hình phát triển, thể chế và phương thức quản trị hiện đại, tạo sức lan tỏa, đóng góp ngày càng lớn cho sự phát triển của đất nước. Trong đó, phát triển toàn diện văn hóa, con người Thành phố là một trong những nhiệm vụ quan trọng, góp phần bồi đắp bản sắc và phát huy những giá trị đặc trưng của đô thị mang tên Bác.
Liên quan đến yêu cầu bảo đảm môi trường ổn định cho phát triển, Thiếu tướng, Tiến sĩ Trần Văn Tuấn, Hiệu trưởng Trường Đại học An ninh Nhân dân nhấn mạnh vai trò của công tác giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực an ninh chất lượng cao. Theo ông, với vị trí là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ và đầu mối giao lưu quốc tế quan trọng, TP Hồ Chí Minh đang đối mặt với những yêu cầu ngày càng cao trong bảo đảm an ninh, trật tự, nhất là trước các thách thức về an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an ninh kinh tế và an ninh phi truyền thống.
Vì vậy, Thành phố cần đội ngũ cán bộ Công an nhân dân có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tốt, tư duy số và khả năng xử lý các tình huống an ninh phức tạp. Trường Đại học An ninh nhân dân không chỉ đào tạo cán bộ cho lực lượng Công an nhân dân mà còn tham gia nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, góp phần xây dựng nguồn nhân lực bảo vệ an ninh, trật tự, giữ vững môi trường ổn định phục vụ sự nghiệp Đổi mới, phát triển và hội nhập của Thành phố.
Các ý kiến tại hội thảo cho thấy, những bài học về tinh thần tiên phong, chủ động tìm tòi, sáng tạo trong 40 năm Đổi mới vẫn còn nguyên giá trị. Việc kế thừa và phát huy những kinh nghiệm này, gắn với đổi mới thể chế, phát triển khoa học - công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển văn hóa và bảo đảm an ninh, trật tự sẽ là những yếu tố quan trọng để TP Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định vai trò đầu tàu, cực tăng trưởng và trung tâm kết nối của vùng và cả nước.