Hòa giải viên phải là người am hiểu phong tục, tập quán địa phương để thực hiện quy trình hòa giải, không làm mất đi bản chất “tự nguyện, mềm dẻo và dựa vào uy tín cộng đồng”.
Thảo luận tại Tổ về các dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) ngày 5/8, nhiều đại biểu Quốc hội cơ bản thống nhất với sự cần thiết, sự phù hợp của nội dung với chủ trương, đường lối của Đảng, về phạm vi điều chỉnh, về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật, về tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan.
Đại biểu Đỗ Thị Việt Hà - Ủy viên là ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN
Dự thảo Luật đã kế thừa những quy định còn phù hợp của Luật hiện hành, đồng thời bổ sung nhiều quy định mới đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong bối cảnh chuyển đổi số và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Các đại biểu đánh giá cao, dự thảo đã thể hiện rõ hơn vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên, cộng đồng dân cư và đội ngũ hòa giải viên; đồng thời bổ sung các quy định về hòa giải trực tuyến, hỗ trợ người yếu thế, bảo đảm bình đẳng giới và ứng dụng công nghệ số trong hoạt động hòa giải.
Hoàn thiện quy định để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đồng bào dân tộc thiểu số
Liên quan đến thành phần tổ hòa giải có đại diện đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), nhiều đại biểu Quốc hội nhận thấy, với các quy định của dự thảo Luật về bảo đảm quyền và lợi ích của đồng bào dân tộc thiểu số trong hoạt động hòa giải ở cơ sở là rất quan trọng. Cơ quan chủ trì soạn thảo đã quan tâm lồng ghép chính sách dân tộc trong nhiều quy định của dự thảo Luật.
Dự thảo đã quy định nguyên tắc quan tâm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người DTTS; bảo đảm quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trong quá trình hòa giải; quy định tổ hòa giải tại vùng đồng bào DTTS phải có hòa giải viên là người DTTS. Đồng thời có cơ chế bố trí người phiên dịch ngôn ngữ DTTS khi hòa giải viên và các bên không hiểu ngôn ngữ của nhau.
Nhà nước cũng khuyến khích những người biết tiếng DTTS tham gia hoạt động hòa giải ở cơ sở. Những quy định này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý, quyền bình đẳng của đồng bào DTTS, đồng thời phù hợp với đặc điểm văn hóa, ngôn ngữ và điều kiện thực tế của từng địa bàn.
Để hoàn thiện hơn quy định này, đại biểu Đỗ Thị Việt Hà - Ủy viên là ĐBQH hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện thêm nội dung về chính sách của Nhà nước về hoà giải ở cơ sở và người tham gia làm hòa giải viên là người DTTS.
Cụ thể, về chính sách của Nhà nước về hoà giải ở cơ sở (Điều 5), đại biểu Đỗ Thị Việt Hà cho rằng, đối với đặc thù vùng đồng bào DTTS, hoạt động hoà giải phải được tổ chức phù hợp với điều kiện tự nhiên, đặc điểm cư trú, phong tục tập quán, thiết chế xã hội truyền thống và trình độ phát triển của từng vùng. Do đó, đề nghị nghiên cứu quy định Nhà nước có chính sách đặc thù đối với hoà giải ở vùng đồng bào DTTS và miền núi như Nhà nước có chính sách ưu tiên bố trí ngân sách cho hoạt động hoà giải ở vùng đồng bào DTTS và miền núi, hỗ trợ phụ cấp, bồi dưỡng hoà giải viên; hỗ trợ chuyển đổi số, hạ tầng, thiết bị, tài liệu song ngữ, trang bị phương tiện phục vụ hoạt động hoà giải.
Về người tham gia làm hòa giải viên là người DTTS, quy định tổ hòa giải có người tham gia làm hòa giải viên là người DTTS có thể là đại diện cho số đông người dân tộc thiểu số nơi đó, tránh trường hợp hòa giải viên là người dân tộc thiểu số này lại tham gia vào tổ hòa giải tại vùng có đông đồng bào DTTS khác.
Đồng thời, đề nghị trong quá trình tổ chức thi hành Luật, Chính phủ, Bộ Tư pháp và UBND các cấp quan tâm lồng ghép việc triển khai công tác hòa giải ở cơ sở với các chương trình, đề án và chính sách đang thực hiện đối với vùng đồng bào DTTS và miền núi. Trong đó, cần chú trọng bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho hòa giải viên là người DTTS, hỗ trợ tài liệu nghiệp vụ, tài liệu phổ biến pháp luật phù hợp với điều kiện của từng địa phương và tạo điều kiện để người dân dễ dàng tiếp cận hoạt động hòa giải.
Đại biểu Đỗ Thị Việt Hà cho rằng “Cách tiếp cận này sẽ phát huy hiệu quả các nguồn lực và chính sách hiện có, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng vùng, từng địa phương mà không làm phát sinh thêm cơ chế, chính sách riêng trong Luật”.
Thước đo của hòa giải không phải là kết thúc một cuộc hòa giải
Đại biểu Bùi Văn Dũng, Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa đồng tình với việc nâng chất lượng hòa giải viên, nhưng Điều 7 dự thảo Luật không nên thiết kế tiêu chuẩn theo hướng quá cứng: Có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân; có hiểu biết pháp luật (Khoản 2 Điều 7) bởi việc định lượng “có hiểu biết pháp luật” không dễ dàng.
“Theo tôi, hòa giải viên cần nhất ba điều: Có uy tín; có hiểu biết cần thiết và có khả năng thuyết phục. Thực tế ở cơ sở, người hòa giải tốt nhất chưa chắc là người có trình độ pháp luật cao nhất. Có khi đó là trưởng thôn, người cao tuổi, cán bộ nghỉ hưu, người có uy tín trong dòng họ hoặc người hiểu rất rõ hoàn cảnh của hai gia đình. Vì vậy, tôi đề nghị rà soát Điều 7 theo hướng không đặt ra những điều kiện có thể dẫn tới “chuyên nghiệp hóa” hòa giải viên”, đại biểu Bùi Văn Dũng đề nghị.
Ủng hộ chuyển đổi số trong công tác hòa giải, nhưng đại biểu Bùi Văn Dũng cho rằng, hòa giải ở cơ sở có đặc thù riêng. Nhiều người tham gia là người cao tuổi. Nhiều vụ việc lại liên quan đến quan hệ gia đình, dòng họ, làng xóm. Có những mâu thuẫn phải ngồi trực tiếp với nhau, nghe nhau nói và nhìn được thái độ của nhau mới có thể hóa giải. Thước đo của hòa giải không phải là kết thúc một cuộc hòa giải, mà là kết thúc được một tranh chấp.
“Vì vậy, tôi đề nghị Luật thể hiện rõ nguyên tắc 'Ứng dụng công nghệ là phương thức hỗ trợ, phải phù hợp với điều kiện thực tế và sự tự nguyện của các bên'. Không nên vì chuyển đổi số mà vô tình tạo thêm một 'thủ tục số' cho một thiết chế vốn cần sự đơn giản. Theo tôi, công nghệ phải phục vụ hòa giải, chứ không được làm hành chính hóa hòa giải”, đại biểu nhấn mạnh.
Theo các đại biểu Quốc hội, việc sửa Luật Hòa giải ở cơ sở phải giữ được hai giá trị. Một là, giữ bản chất tự nguyện, mềm dẻo, gần dân và dựa vào uy tín cộng đồng. Hai là, nâng hiệu quả thực chất và giá trị của kết quả hòa giải. Hòa giải tốt không chỉ giảm một vụ việc cho chính quyền hoặc Tòa án. Hòa giải tốt là giải quyết được mâu thuẫn mà vẫn giữ được một mối quan hệ, một gia đình, một tình làng nghĩa xóm.