Chính phủ phê duyệt Kế hoạch vay, trả nợ công năm 2023

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái đã ký Quyết định 458/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch vay, trả nợ công năm 2023 và Chương trình quản lý nợ công 3 năm giai đoạn 2023 - 2025.
Chú thích ảnh
Ảnh minh họa: Trần Việt/TTXVN

Theo đó, về tổ chức thực hiện Kế hoạch vay, trả nợ công năm 2022, căn cứ Nghị quyết số 34/2021/QH15 của Quốc hội về dự toán ngân sách Nhà nước năm 2022; Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội; Nghị quyết số 69/2022/QH15 của Quốc hội về dự toán ngân sách nhà nước năm 2023, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính huy động vốn cho ngân sách trung ương để bù đắp bội chi và trả nợ gốc theo nhu cầu phát sinh thực tế, bao gồm hạch toán ngân sách nhà nước các khoản vay nước ngoài bổ sung vốn cho 5 dự án của Tổng Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) và Tổng Công ty Phát triển hạ tầng và Đầu tư tài chính Việt Nam (VIDIFI) được chuyển đổi từ vốn vay về cho vay lại, bảo lãnh Chính phủ thành vốn cấp phát ngân sách nhà nước theo quy định tại Nghị quyết số 69/2022/QH15.

Bộ Tài chính thực hiện chi trả nợ ngân sách trung ương, bao gồm thanh toán các khoản nợ vay nước ngoài đến hạn của VEC và hoàn trả nợ gốc đã ứng trả các khoản vay nước ngoài của VIDIFI được chuyển đổi thành vốn cấp phát ngân sách nhà nước theo quy định tại Nghị quyết số 69/2022/QH15 của Quốc hội.

Về kế hoạch vay, trả nợ công năm 2023, kế hoạch vay của Chính phủ tối đa 644.409 tỷ đồng, gồm: Vay cho cân đối ngân sách trung ương tối đa 621.015 tỷ đồng, trong đó vay bù đắp bội chi ngân sách trung ương tối đa là 430.500 tỷ đồng, vay để trả nợ gốc không quá 190.515 tỷ đồng; vay về cho vay lại khoảng 23.394 tỷ đồng.

Trả nợ của Chính phủ khoảng 327.287 tỷ đồng, trong đó trả nợ trực tiếp của Chính phủ không quá 293.405 tỷ đồng, trả nợ của các dự án cho vay lại khoảng 33.882 tỷ đồng…

Về vay được Chính phủ bảo lãnh, mức bảo lãnh phát hành trái phiếu đối với Ngân hàng Chính sách xã hội tối đa 21.851 tỷ đồng (bằng nghĩa vụ trả nợ gốc trái phiếu Chính phủ bảo lãnh đến hạn trong năm là 2.451 tỷ đồng cộng hạn mức bảo lãnh phát hành để thực hiện các chính sách cho vay ưu đãi quy định tại Nghị quyết số 43/2022/QH15 và Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ tối đa 19.400 tỷ đồng). Mức bảo lãnh phát hành trái phiếu năm 2023 nêu trên chưa bao gồm mức bảo lãnh phát hành để thực hiện các chính sách cho vay ưu đãi quy định tại Nghị quyết số 43/2022/QH15 chưa sử dụng hết trong năm 2022 được chuyển sang 2023 theo Quyết định số 448/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Mức bảo lãnh phát hành trái phiếu đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam tối đa bằng nghĩa vụ trả nợ gốc trái phiếu Chính phủ bảo lãnh đến hạn trong năm là 5.327 tỷ đồng.

Mức bảo lãnh phát hành trái phiếu cụ thể đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội được xác định trên cơ sở Bộ Tài chính thẩm định hồ sơ đề nghị phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh theo quy định tại Nghị định số 91/2018/NĐ-CP về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ.

Đối với bảo lãnh cho doanh nghiệp vay trong nước và ngoài nước, không bố trí hạn mức bảo lãnh Chính phủ năm 2023 do các dự án không có nhu cầu rút vốn, chỉ trả nợ.

Về kế hoạch vay, trả nợ của chính quyền địa phương, vay từ nguồn vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ và các nguồn vay khác khoảng 27.198 tỷ đồng; trả nợ của chính quyền địa phương 4.993 tỷ đồng, gồm chi trả gốc 2.804 tỷ đồng và chi trả lãi 2.189 tỷ đồng.

Vay thương mại nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh năm 2023: Hạn mức vay thương mại nước ngoài trung, dài hạn của các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng theo phương thức tự vay, tự trả tối đa 7.500 triệu USD; tốc độ tăng dư nợ nước ngoài ngắn hạn khoảng 20% so với dư nợ tại thời điểm 31/12/2022.

Kế hoạch vay, trả nợ năm 2023 thực hiện trong các mức tối đa nêu trên; trường hợp phát sinh nhu cầu vượt mức tối đa nêu trên, Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh kế hoạch.

Về vay, trả nợ của Chính phủ, tổng mức vay giai đoạn 2023 - 2025 tối đa khoảng 1.873 nghìn tỷ đồng, trong đó vay cho ngân sách trung ương khoảng 1.813 nghìn tỷ đồng, vay về cho vay lại khoảng 59 nghìn tỷ đồng; tổng trả nợ của Chính phủ giai đoạn 2023 - 2025 tối đa khoảng 1.098 nghìn tỷ đồng, trong đó trả nợ trực tiếp khoảng 967 nghìn tỷ đồng, trả nợ vay lại khoảng 131 nghìn tỷ đồng.

Chủ động bố trí nguồn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ, không để xảy ra tình trạng nợ quá hạn, làm ảnh hưởng đến các cam kết quốc tế của Chính phủ.

Về bảo lãnh Chính phủ, mức bảo lãnh đảm bảo tốc độ tăng dư nợ Chính phủ bảo lãnh không vượt quá tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội của năm trước và trong hạn mức bảo lãnh Chính phủ giai đoạn 2021 - 2025 được Quốc hội phê duyệt.

Đối với bảo lãnh cho 2 ngân hàng phát hành trái phiếu, mức bảo lãnh cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam trong giai đoạn 2023 - 2025 tối đa là 11.037 tỷ đồng, bằng nghĩa vụ trả nợ gốc trái phiếu Chính phủ bảo lãnh đến hạn trong giai đoạn 2023-2025; mức bảo lãnh cho Ngân hàng Chính sách xã hội trong giai đoạn 2023 - 2025 tối đa là 27.851 tỷ đồng, bằng nghĩa vụ trả nợ gốc trái phiếu Chính phủ bảo lãnh đến hạn trong giai đoạn 2023 - 2025 (tối đa 8.451 tỷ đồng) cộng hạn mức bảo lãnh phát hành để thực hiện các chính sách cho vay ưu đãi quy định tại Nghị quyết số 43/2022/QH15 (tối đa 19.400 tỷ đồng).

Mức bảo lãnh cho Ngân hàng Chính sách xã hội giai đoạn 2023 - 2025 nêu trên chưa bao gồm mức bảo lãnh phát hành để thực hiện các chính sách cho vay ưu đãi quy định tại Nghị quyết số 43/2022/QH15 chưa sử dụng hết trong năm 2022 được chuyển sang năm 2023 theo Quyết định số 448/QĐ-TTg.

Phó Thủ tướng yêu cầu quán triệt mục tiêu kiểm soát chặt chẽ cấp bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay trong phạm vi hạn mức bảo lãnh được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Về vay, trả nợ của chính quyền địa phương: khống chế hạn mức bội chi và nợ của chính quyền địa phương theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015, theo đó bội chi ngân sách địa phương hàng năm giai đoạn 2023 - 2025 khoảng 0,3% GDP.

(TTXVN/Báo tin tức)

Dành cho bạn

Xử lý nhà, đất công dôi dư - Bài 2

Xử lý nhà, đất công dôi dư - Bài 2

Từ những trụ sở hành chính không còn sử dụng, nhiều công trình đã nhanh chóng "hồi sinh" khi được linh hoạt chuyển đổi sang phục vụ giáo dục, y tế, văn hóa và sinh hoạt cộng đồng. Cách làm này không chỉ giúp tiết kiệm ngân sách đầu tư công mà còn đáp ứng kịp thời các nhu cầu dân sinh cấp thiết.

Xử lý nhà, đất công dôi dư - Bài 1

Xử lý nhà, đất công dôi dư - Bài 1

Sau quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính, hàng nghìn cơ sở nhà, đất công dôi dư trên cả nước đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về quản lý và khai thác. Làm sao để tránh lãng phí, biến những trụ sở cũ thành nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội thay vì thành "gánh nặng" quản lý là bài toán đòi hỏi sự linh hoạt, phân cấp mạnh mẽ và tư duy xử lý sát với thực tiễn.

Điều động 160 cán bộ, chiến sĩ bảo đảm duy trì hoạt động cầu phao sông Lô

Điều động 160 cán bộ, chiến sĩ bảo đảm duy trì hoạt động cầu phao sông Lô

Theo Báo cáo của Văn phòng Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, ngày 12/9, các lực lượng chức năng tiếp tục duy trì công tác bảo đảm cầu phao sông Lô, chủ động ứng phó áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, lũ, ngập lụt; đồng thời triển khai tìm kiếm, cứu nạn nhiều vụ việc trên biển và tại địa phương.
Chuyến thăm Nga và Pháp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đạt kết quả toàn diện, thực chất

Chuyến thăm Nga và Pháp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đạt kết quả toàn diện, thực chất

Nhận lời mời của Tổng thống Nga Vladimir Putin, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga, thăm chính thức Cộng hòa Pháp và tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Không gian vũ trụ từ ngày 7 - 12/9.