Về lúa gạo, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, giá lúa tươi tại ruộng, gạo nguyên liệu và phụ phẩm đều tăng so với tuần trước.
Đối với lúa tươi tại ruộng, lúa thơm có giá cao nhất 7.450 đồng/kg, giá bình quân 7.293 đồng/kg, tăng 707 đồng/kg so với tuần trước. Lúa thường có giá cao nhất 6.750 đồng/kg, bình quân 6.536 đồng/kg, tăng 471 đồng/kg.
Ở nhóm gạo nguyên liệu, giá xát trắng loại 1 đạt mức cao nhất 11.950 đồng/kg, bình quân 11.685 đồng/kg, tăng 940 đồng/kg so với tuần trước. Đây cũng là mặt hàng có mức tăng giá lớn nhất trong các nhóm được thống kê. Gạo xát trắng loại 2 có giá cao nhất 10.650 đồng/kg, tăng 340 đồng/kg. Trong khi đó, lứt loại 1 có giá cao nhất 10.950 đồng/kg, tăng 579 đồng/kg; lứt loại 2 trung bình 9.525 đồng/kg, tăng 543 đồng/kg.
Đối với nhóm phụ phẩm, tấm 1/2 có giá cao nhất 10.500 đồng/kg, tăng 879 đồng/kg so với tuần trước. Cám xát/lau có giá cao nhất 8.325 đồng/kg, tăng 168 đồng/kg.
Tại An Giang cho thấy, giá một số loại lúa tiếp tục có sự biến động tăng nhẹ. Lúa tươi Đài Thơm 8 có giá dao động 6.600-6.800 đồng, tăng 100 đồng/kg so với cuối tuần trước; OM 18 cũng ở quanh mốc 6.600 - 6.800 đồng/kg, tăng 200 đồng/kg; lúa IR 50404 vẫn ở mức 6.100-6.300 đồng/kg, tăng 100 đồng/kg. Một số loại khác cũng tăng khoảng 200 đồng/kg như: OM 5451 từ 6.200-6.300 đồng/kg, OM 34 ở mức 6.000-6.200 đồng/kg.
Đối với gạo nguyên liệu, CL 555 có giá 9.400-9.450 đồng/kg, tăng 200-300 đồng/kg; IR 50404 dao động ở mức 9.350-9.500 đồng/kg, tăng 300 đồng/kg. Các dòng lúa chất lượng cao như: OM 5451 duy trì ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; Đài Thơm 8 đạt 9.200 - 9.400 đồng/kg; OM 18 dao động 8.700 - 8.850 đồng/kg; OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg, tương đương so với cuối tuần trước.
Về xuất khẩu, gạo 5% tấm của Việt Nam được chào bán ở mức 480-490 USD/tấn, tăng từ 470-480 USD/tấn một tuần trước và là mức cao nhất kể từ tháng 12/2024. Các thương nhân cho biết việc Philippines nối lại việc mua gạo từ Việt Nam đã đẩy giá gạo tăng lên.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, xuất khẩu gạo 10 tháng năm 2026 đạt 6,8 triệu tấn với 3,31 tỷ USD, giảm 4,6% về khối lượng và giảm 9,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá gạo xuất khẩu bình quân 10 tháng năm 2026 ước đạt 484 USD/tấn, giảm 5,4% so với cùng kỳ năm 2025.
Philippines là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam với thị phần chiếm 40,2%. Trung Quốc và Gana là hai thị trường lớn tiếp theo với thị phần tương ứng là 17,5% và 13,7%.
Cũng như Việt Nam, giá gạo xuất khẩu tại Thái Lan đang tăng lên mức cao nhất trong gần 2 năm qua trong tuần qua, do lo ngại về sự gián đoạn nguồn cung và nhu cầu mạnh. Trong khi đó, giá gạo Ấn Độ giảm nhẹ do nguồn cung vụ mới cải thiện.
Giá gạo tấm 5% của Thái Lan tăng lên 490-495 USD/tấn, mức cao nhất kể từ tháng 1/2025 và tăng từ mức 480 USD/tấn được niêm yết tuần trước, do nhu cầu cao và nguồn cung giảm ở một số khu vực.
Các thương nhân cho biết, nhu cầu đến từ Philippines với nhiều người mua đang mua từ các nhà xuất khẩu. Về nguồn cung, một số vùng trồng lúa bị lũ lụt dẫn đến sản lượng giảm. Những lo ngại về hiện tượng El Nino và nguồn cung hạn chế của vụ mùa tiếp theo cho đến năm sau tiếp tục hỗ trợ giá cả.
Trong khi đó, gạo đồ 5% tấm của Ấn Độ được niêm yết ở mức 382-386 USD/tấn trong tuần này, chạm mức thấp nhất kể từ ngày 8/10 và giảm so với mức 387-392 USD/tấn của tuần trước. Gạo trắng 5% tấm của Ấn Độ được định giá ở mức 389-393 USD/tấn.
Về thị trường nông sản Mỹ, giá đậu tương kỳ hạn trên Sàn giao dịch hàng hoá Chicago (CBOT) tăng nhẹ trong phiên 6/11, nhờ hoạt động mua sau khi giá giảm xuống mức thấp nhất trong 12 tuần trước đó, trong khi giá lúa mỳ chạm mức thấp nhất trong gần 9 tháng.
Hợp đồng đậu tương kỳ hạn tháng 1/2027 kết thúc phiên tăng 5,5 xu Mỹ, lên 11,93 USD/bushel sau khi giảm xuống mức thấp nhất kể từ ngày 12/8 là 11,84 USD/bushel. Trong tuần, hợp đồng này giảm 3,3%. (1 bushel đậu tương = 27,2 kg).
Các nhà giao dịch đã mua vào trước khi Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) công bố dự báo mùa vụ cập nhật vào ngày 10/11. Trung bình, các nhà phân tích dự báo USDA sẽ tăng ước tính sản lượng đậu tương của Mỹ lên mức kỷ lục 4,597 tỷ bushel, từ 4,562 tỷ bushel trong tháng 10/2026.
Trong khi đó, giá lúa mỳ kỳ hạn tháng 12/2026 giảm 8 xu Mỹ, xuống 5,91 USD/bushel, sau khi chạm mức thấp nhất kể từ ngày 18/2 là 5,85 USD/bushel. (1 bushel lúa mỳ = 27,2 kg).
Giá giảm mạnh trong bối cảnh triển vọng nối lại xuất khẩu ngũ cốc Biển Đen sau khi Nga và Ukraine xác nhận tham gia các cuộc đàm phán hòa bình ba bên với Mỹ tại Abu Dhabi từ ngày 10 đến 11/11.
Hợp đồng ngô kỳ hạn tháng 12/2026 đóng cửa tăng 1,5 xu Mỹ, lên 4,41 USD/bushel, sau khi giảm xuống 4,38 USD/bushel, mức thấp nhất trong 4 tháng. (1 bushel ngô = 25,4 kg).
Trung bình, các nhà phân tích dự báo USDA sẽ công bố sản lượng ngô của Mỹ ở mức 15,962 tỷ bushel vào tuần tới, giảm so với ước tính tháng 10 là 16,034 tỷ bushel. Đây sẽ là mức sản lượng cao thứ hai trong lịch sử, sau vụ mùa năm ngoái.
Về thị trường cà phê, giá cà phê tiếp tục tăng trên cả 2 sàn giao dịch quốc tế vào đầu giờ sáng 7/11 (theo giờ Việt Nam). Giá cà phê Robusta hợp đồng kỳ hạn giao tháng 11/2026 trên sàn London tăng 0,89%, tương đương 29 USD/tấn so với phiên trước, lên 3.285 USD/tấn. Giá cà phê Arabica trên sàn New York kỳ hạn hợp đồng giao tháng 12/2026 tăng 1,03%, tương đương 2,85 xu Mỹ/lb so với chốt phiên liền trước, lên 280 xu Mỹ/lb. (1 lb = 453,59 g).
Ở chiều ngược lại, tại thị trường trong nước, giá cà phê tại khu vực Tây Nguyên tuần qua tiếp tục giảm mạnh 2.300–2.500 đồng/kg, còn quanh 84.000-84.700 đồng/kg. Đây cũng là tuần giảm giá thứ 5 liên tiếp của thị trường cà phê trong nước.
Cụ thể, tại Lâm Đồng, giá cà phê dao động từ 84.000-84.700 đồng/kg; trong khi tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cùng ở mức 84.500 đồng/kg.