Thông qua các hợp tác xã, tổ hợp tác và chương trình hỗ trợ sản xuất, bà con có thêm điều kiện ứng dụng kỹ thuật mới, giảm chi phí đầu vào, nâng cao năng suất và ổn định đầu ra nông sản.
Được thành lập năm 2019, Hợp tác xã Nông nghiệp Ngọc Thạch, xã Nhị Trường, tỉnh Vĩnh Long từng bước trở thành địa chỉ liên kết sản xuất, cung ứng vật tư và hỗ trợ kỹ thuật cho nông dân. Từ 10 thành viên ban đầu, đến nay Hợp tác xã phát triển lên 120 thành viên, trong đó có 20 thành viên góp vốn và hơn 100 thành viên liên kết. Đáng chú ý, trên 95% thành viên và hộ dân tham gia liên kết là đồng bào Khmer.
Theo ông Thạch Dương, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Ngọc Thạch, đơn vị tập trung hỗ trợ nông dân giảm chi phí sản xuất, tiếp cận kỹ thuật mới và tìm đầu ra ổn định cho nông sản. Hằng năm, Hợp tác xã cung ứng khoảng 1 triệu cây giống rau màu, chủ yếu là ớt, cà chua, ngô và một số loại rau màu khác. Đối với sản xuất lúa, Hợp tác xã cung ứng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hướng dẫn kỹ thuật và tổ chức thu mua sau thu hoạch.
Một trong những cách làm được thành viên đánh giá cao là Hợp tác xã hỗ trợ tạm ứng vật tư đầu vụ, đến khi thu hoạch mới thanh toán. Sau thu hoạch, Hợp tác xã thu mua lúa và đối trừ khoản vật tư đã ứng trước. Giá thu mua theo thị trường tại thời điểm giao dịch, thành viên liên kết được ưu tiên mua cao hơn khoảng 100–200 đồng/kg. Phương thức này giúp nông dân giảm áp lực vốn đầu tư, đồng thời yên tâm hơn về đầu ra sản phẩm. Nhờ tiết giảm chi phí đầu vào và cải thiện giá bán, lợi nhuận của các hộ tham gia liên kết tăng khoảng 10–15 triệu đồng/ha so với sản xuất bên ngoài mô hình. Năng suất lúa đạt khoảng 6–6,5 tấn/ha trong vụ Hè Thu và Thu Đông; riêng vụ Đông Xuân đạt khoảng 7 tấn/ha, cao hơn 10-15% so với trước khi tham gia hợp tác xã. Các giống lúa được sử dụng chủ yếu là Đài Thơm 8 và OM 18.
Tham gia Hợp tác xã từ năm 2021, ông Kim Nuộne, xã Nhị Trường có 4,6 ha đất sản xuất nông nghiệp; trong đó, gia đình dành 4 ha trồng lúa giống OM 18 và 0,6 ha sản xuất ớt, cà chua, ngô giống theo nhu cầu liên kết. Theo ông Nuộne, gia đình được hỗ trợ giống, vật tư và hướng dẫn kỹ thuật trong quá trình sản xuất. Việc tạm ứng vật tư đầu vụ giúp gia đình giảm áp lực vốn; khi thu hoạch, sản phẩm được Hợp tác xã thu mua và đối trừ khoản đã ứng trước.
Ông Kim Nuộne cho biết, việc có đơn vị liên kết thu mua với giá ưu tiên cao hơn thị trường khoảng 100–200 đồng/kg giúp gia đình chủ động hơn trong sản xuất, giảm lo lắng về đầu ra và cải thiện thu nhập. Qua quá trình tham gia, gia đình cũng chú trọng hơn đến việc sử dụng giống phù hợp, thực hiện theo hướng dẫn kỹ thuật để nâng cao hiệu quả canh tác.
Cùng với mô hình liên kết thông qua hợp tác xã, tại xã Phong Thạnh, việc tổ chức sản xuất theo nhóm nghề nghiệp gắn với doanh nghiệp đang tạo điều kiện để nông dân Khmer tiếp cận quy trình canh tác mới. Vụ Hè Thu năm 2026, gia đình bà Thạch Thị Chia tham gia Chi hội Nông dân nghề nghiệp trồng lúa chất lượng cao ST25 với diện tích 1 ha. Tham gia mô hình, gia đình bà được doanh nghiệp cung ứng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và hỗ trợ một phần chi phí cấy theo thỏa thuận. Các khoản đầu tư được đối trừ sau thu hoạch. Bên cạnh đó, nông dân được hướng dẫn quy trình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp và được doanh nghiệp bao tiêu lúa hàng hóa với giá 8.000 đồng/kg.
Bà Thạch Thị Chia cho biết, trước đây gia đình chủ yếu sản xuất dựa vào kinh nghiệm, chưa chú trọng đúng mức đến quy trình sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật nên chi phí đầu tư còn cao. Khi tham gia mô hình, được hướng dẫn kỹ thuật, gia đình biết cách sử dụng vật tư hợp lý hơn, góp phần tiết giảm chi phí. Việc được hỗ trợ vật tư, một phần chi phí cấy và có doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm cũng giúp gia đình giảm áp lực vốn, yên tâm sản xuất và nâng cao thu nhập.
Trong vụ Hè Thu năm 2026, do thời tiết bất lợi, năng suất lúa của gia đình bà Chia giảm. Tuy nhiên, giá thu mua theo thỏa thuận đạt 8.000 đồng/kg, cao hơn giá thị trường khoảng 1.700–1.800 đồng/kg, nên gia đình vẫn bảo đảm lợi nhuận. Qua mô hình, bà có thêm kinh nghiệm trong áp dụng kỹ thuật, sử dụng vật tư hợp lý và nhận thấy vai trò của liên kết tiêu thụ đối với hiệu quả sản xuất.
Từ hai mô hình trên cho thấy, khi được hỗ trợ về giống, vật tư, kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm, nông dân Khmer có thêm điều kiện thay đổi tập quán sản xuất, mạnh dạn áp dụng quy trình canh tác mới. Sự tham gia của hợp tác xã, tổ chức hội và doanh nghiệp góp phần kết nối các khâu sản xuất, giúp nông dân giảm chi phí và ổn định đầu ra nông sản.
Theo Đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2025–2030, định hướng đến năm 2045, tỉnh tập trung đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới phương thức tổ chức sản xuất và tăng cường liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị.
Cùng với đó, tỉnh tích cực triển khai Đề án phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030. Định hướng này tập trung tổ chức sản xuất quy mô lớn, nâng cao chất lượng gạo, giảm sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, tiết kiệm nước, tăng cường cơ giới hóa và giảm phát thải trong sản xuất.
Đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long đặt mục tiêu đến năm 2030, giá trị sản xuất bình quân trên đất trồng trọt đạt trên 360 triệu đồng/ha; tỷ lệ giá trị sản phẩm nông, lâm, thủy sản được sản xuất theo hình thức hợp tác, liên kết đạt từ 40% trở lên. Tỷ lệ sản phẩm được sản xuất theo quy trình thực hành tốt, ứng dụng công nghệ cao gắn với chuyển đổi số đạt từ 30% trở lên.