Đáng chú ý, chỉ số đầu ra đổi mới sáng tạo tăng hai bậc, lên vị trí thứ 35. Kết quả này tiếp tục ghi nhận những chuyển biến của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Việt Nam, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn lực, năng lực nghiên cứu và khả năng chuyển hóa tri thức thành sản phẩm, công nghệ và giá trị mới.
Tăng 16 bậc sau một thập niên
Báo cáo GII 2026 do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố tối 29/9 theo giờ Việt Nam cho thấy chặng đường phát triển của đổi mới sáng tạo Việt Nam trong 10 năm qua. Từ vị trí thứ 59 năm 2016, Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 43 năm 2026, tăng 16 bậc. Việt Nam tiếp tục đứng thứ ba trong khu vực Đông Nam Á, sau Singapore và Malaysia, đứng thứ hai trong nhóm các nền kinh tế thu nhập trung bình thấp.
Trong bảng xếp hạng năm nay, Việt Nam đứng thứ 54 về đầu vào đổi mới sáng tạo và thứ 35 về đầu ra đổi mới sáng tạo. So sánh hai nhóm chỉ số cho thấy khả năng chuyển các nguồn lực đầu vào thành kết quả đổi mới sáng tạo của Việt Nam đang có những chuyển biến tích cực. Đây là một trong những điểm đáng chú ý của GII 2026 khi hiệu quả của hệ sinh thái nằm ở khả năng biến những nguồn lực ấy thành tri thức, công nghệ, sản phẩm và giá trị.
Theo Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân, việc đầu ra đổi mới sáng tạo tăng hai bậc là kết quả đáng ghi nhận, cho thấy các chính sách và nguồn lực dành cho lĩnh vực này đã bước đầu phát huy hiệu quả, đặc biệt là từ tinh thần triển khai Nghị quyết 57 rất quyết liệt trong thời gian qua. Bộ trưởng cũng chỉ ra ba động lực chính tạo nên kết quả này. Trước hết, nguồn lực đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã tăng mạnh. Cùng với đó, từ việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, hệ thống chính sách, pháp luật trong các lĩnh vực này đang từng bước được hoàn thiện. Yếu tố thứ ba là sự tham gia của các chủ thể trong hệ sinh thái, từ Nhà nước, doanh nghiệp đến các viện nghiên cứu, trường đại học đã bước đầu hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.
Ba yếu tố này cho thấy một chuyển biến quan trọng: Đổi mới sáng tạo đang được đặt trong một hệ thống rộng hơn, nơi nguồn lực, thể chế và các chủ thể cùng tác động đến khả năng tạo ra kết quả. Nếu trước đây câu chuyện thường được nhìn từ phía hoạt động nghiên cứu, thì yêu cầu hiện nay là phải nhìn xuyên suốt quá trình từ đầu tư, nghiên cứu, phát triển công nghệ đến ứng dụng và tạo ra giá trị.
Các chuyên gia WIPO đánh giá Việt Nam là một trong những nền kinh tế có thành tích đổi mới sáng tạo cao hơn mức độ phát triển nhưng năng lực tạo tri thức, nghiên cứu và phát triển vẫn là những lĩnh vực cần tiếp tục củng cố. Một số chỉ số chưa cải thiện hoặc còn ở thứ hạng thấp. Chỉ số chất lượng các quy định pháp luật đang ở mức 91; hiệu quả thực thi pháp luật ở mức 81; mức chi cho giáo dục đang xếp hạng 112; tỷ lệ học sinh/giáo viên trung học xếp hạng 106; tỷ lệ tuyển sinh đại học xếp hạng 87… Bên cạnh đó, số công bố bài báo khoa học và kỹ thuật đứng thứ 106; xuất khẩu dịch vụ công nghệ thông tin, phần trăm tổng giao dịch thương mại đứng thứ 103. Nhóm chỉ số vốn đầu tư mạo hiểm giảm 6 bậc, xuống vị trí 68. Chất lượng thực thi pháp luật đứng thứ 81. Nhân lực việc làm dựa trên tri thức đứng thứ 100. Những con số này cho thấy nguồn lực cho đổi mới sáng tạo vẫn cần được củng cố ở nhiều khâu, lĩnh vực; cần có sự chung tay của nhiều thành phần kinh tế-xã hội.
Cần sự tham gia mạnh mẽ của doanh nghiệp
Theo Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân, doanh nghiệp cần tham gia mạnh mẽ hơn vào nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo; tăng đầu tư về tài chính và nhân lực; đưa công nghệ và chuyển đổi số vào sản xuất, kinh doanh để nâng cao chất lượng sản phẩm, gia tăng giá trị và năng suất lao động. Cùng với đó là yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ các ngành công nghệ chiến lược, đồng thời gia tăng công bố khoa học quốc tế và bằng sáng chế.
Ở cấp độ chính sách, Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 được điều chỉnh, bổ sung theo Quyết định số 604/QĐ-TTg ngày 2/4/2026 xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, gắn với nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh quốc gia. Chiến lược đặt trọng tâm vào công nghệ chiến lược, hạ tầng khoa học, công nghệ và dữ liệu, nguồn nhân lực chất lượng cao, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ, thị trường khoa học và công nghệ, tài sản trí tuệ.
Theo mục tiêu được đặt ra, Việt Nam phấn đấu đưa GII vào nhóm 40 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2030; Nghị quyết số 57-NQ/TW cũng đặt mục tiêu đến năm 2045 thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo. Đây là những mục tiêu đòi hỏi chất lượng tăng trưởng của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phải được nâng lên, bởi phần lớn các nền kinh tế đứng trên Việt Nam hiện có thu nhập cao, năng lực nghiên cứu mạnh và vị trí sâu trong các chuỗi giá trị toàn cầu.
Vì vậy, các nhiệm vụ được đặt ra trong thời gian tới cần tập trung vào những điểm có khả năng tạo chuyển biến thực chất như: Tiếp tục hoàn thiện thể chế theo yêu cầu của thực tiễn; tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển; thu hút các tập đoàn lớn hình thành trung tâm R&D tại Việt Nam; mở rộng đầu tư vào công nghệ cao, công nghệ chiến lược; nâng cao năng lực viện, trường; thúc đẩy liên kết viện - trường - doanh nghiệp; thu hút vốn cho khởi nghiệp sáng tạo và hình thành các cụm, liên kết đổi mới sáng tạo.
Doanh nghiệp phải có năng lực tiếp nhận, hấp thụ và làm chủ công nghệ. Đây là điều kiện để kết quả nghiên cứu không dừng ở phòng thí nghiệm, sáng chế không dừng ở văn bằng, còn đầu tư cho công nghệ không dừng ở việc mua sắm thiết bị. Khi doanh nghiệp làm chủ được công nghệ, đổi mới quy trình, nâng chất lượng sản phẩm và tăng năng suất, nguồn lực dành cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo mới chuyển thành giá trị cụ thể trong nền kinh tế.
Sau một thập niên tăng 16 bậc trên bảng xếp hạng GII, Việt Nam đã có những bước tiến rõ về năng lực đổi mới sáng tạo. Chặng đường tiếp theo đòi hỏi phải củng cố những khâu còn yếu. Khi những điểm nghẽn này được tháo gỡ, kết quả đổi mới sáng tạo sẽ có thêm điều kiện được ứng dụng rộng hơn, góp phần nâng năng suất, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đây cũng là cơ sở để Việt Nam hướng tới mục tiêu đưa GII vào nhóm 40 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2030.