Tạo cơ chế gắn nguồn lực kiều bào với nhu cầu cụ thể của quê

Những cuộc gặp gỡ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với cộng đồng người Việt Nam, các chuyên gia, nhà khoa học trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Australia và New Zealand vào tháng 8 vừa qua đã đặt ra vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm: Làm thế nào để nguồn lực trí thức người Việt Nam ở nước ngoài được kết nối thường xuyên và đóng góp thiết thực hơn cho sự phát triển của đất nước? Từ Australia đến New Zealand, một điểm chung trong chia sẻ của nhiều trí thức Việt Nam là mong muốn được tham gia không chỉ bằng những ý kiến tư vấn, mà thông qua những dự án, nhiệm vụ và cơ chế hợp tác cụ thể.

tbt.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp một số trí thức, nhà khoa học tiêu biểu thuộc Hội trí thức, chuyên gia người Việt tại Australia (VASEA). Ảnh: Thống Nhất/TTXVN

Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Sydney, TS. Nguyễn Tuấn Nghĩa, chuyên gia trí tuệ nhân tạo (AI), Chủ tịch Chi hội bang New South Wales thuộc Hội Trí thức và Chuyên gia Việt Nam - Australia (VASEA), cho rằng nhiều chuyên gia người Việt đang trực tiếp làm việc trong những hệ sinh thái khoa học – công nghệ hàng đầu thế giới. Theo TS Nguyễn Tuấn Nghĩa, vấn đề là cần tạo ra cơ chế để nguồn lực này gắn được với những nhu cầu cụ thể trong nước.

Ông đề xuất chuyển từ những lời kêu gọi chung sang cơ chế “đặt hàng có địa chỉ”. Chẳng hạn, với các nhiệm vụ khoa học – công nghệ, cần xác định rõ bài toán cần giải quyết, đơn vị chủ trì, nguồn lực, tiến độ và kết quả mong muốn. Khi thông tin đủ cụ thể, chuyên gia ở nước ngoài có thể nhanh chóng xác định mình có khả năng tham gia hay không và cần phối hợp với ai.

Cách tiếp cận này cũng gần với kiến nghị của bạn Huỳnh Tấn Đạt, Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam tại Australia (SVAU). Chia sẻ tại buổi sinh hoạt chuyên đề do Hội sinh viên Việt Nam tại Australia phối hợp với Đoàn Thanh niên Bộ ngoại giao tổ chức vào tuần cuối tháng 9 vừa qua, bạn Huỳnh Tấn Đạt cho rằng cần làm rõ đầu mối chịu trách nhiệm kết nối giữa nguồn lực tri thức nước ngoài và “điểm đến” trong nước, từ khâu tiếp nhận nhu cầu cho tới khi hình thành hợp tác. Khi hình thành được một quy trình đủ rõ, việc kết nối mới có thể đi tới kết quả cuối cùng.

Cũng tại buổi sinh hoạt này, trong trao đổi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài Ngô Trịnh Hà khẳng định Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 của Bộ Chính trị đã thể hiện rõ bước phát triển trong nhận thức đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Theo ông, cách tiếp cận đang chuyển từ chủ yếu “vận động, chăm lo, kết nối” sang “đồng hành, kiến tạo cơ chế và phát huy nguồn lực”. Người Việt Nam ở nước ngoài được nhìn nhận không chỉ là đối tượng của công tác vận động mà còn là chủ thể có thể đồng hành cùng quá trình phát triển đất nước. Nghị quyết 23 cũng xác định nguồn lực kiều bào không chỉ bao gồm nguồn lực kinh tế, mà còn có tri thức, khoa học – công nghệ, giáo dục, văn hóa, kinh nghiệm quản trị và mạng lưới quốc tế.

Từ cách tiếp cận đó, ông Ngô Trịnh Hà nhấn mạnh chuyên gia và trí thức không nhất thiết phải trở về sinh sống lâu dài trong nước mới có thể đóng góp. Họ có thể tham gia từ nơi đang làm việc thông qua nghiên cứu, tư vấn, chuyển giao công nghệ hoặc các mạng lưới chuyên môn.

Đây là yếu tố mà TS. Nguyễn Tuấn Nghĩa đã đề cập tới trong cuộc trao đổi với phóng viên TTXVN tại Sydney. Ông cho rằng phần lớn chuyên gia Việt Nam sinh sống ở nước ngoài đã có công việc và gia đình ổn định. Việc trở về Việt Nam liên tục và kéo dài là rất khó khăn.

Do đó, ông cho rằng các quy định cần được triển khai theo hướng tạo điều kiện để giới chuyên gia, trí thức Việt kiều có thể tham gia đóng góp dưới những hình thức linh hoạt như giáo sư thỉnh giảng, đồng chủ nhiệm đề tài, thành viên hội đồng chuyên môn hoặc cố vấn theo dự án.

Muốn vậy, theo ông, cần đồng thời giảm những “ma sát” về thủ tục như hợp đồng, thanh toán xuyên biên giới, công nhận văn bằng, thuế và sở hữu trí tuệ.

Từ New Zealand, GS.TS Nguyễn Hoàng Minh, Phó Chủ tịch Mạng lưới Tri thức Việt Nam tại New Zealand, cũng cho rằng hiệu quả hợp tác phụ thuộc vào việc kết nối được “đúng người, đúng lúc”. Theo ông, mỗi sáng kiến cần trả lời rõ 3 câu hỏi: ai chịu trách nhiệm, khi nào thực hiện và kết quả được đo lường bằng tiêu chí nào.

Trong lĩnh vực khoa học – công nghệ, cơ chế kết nối cần đưa được bài toán của trường đại học hoặc doanh nghiệp Việt Nam tới đúng nhóm nghiên cứu, công nghệ và đối tác quốc tế. Các mạng lưới trí thức người Việt ở nước ngoài có thể đóng vai trò cầu nối trong quá trình này.

GS.TS Nguyễn Hoàng Minh cho rằng thành công không nên chỉ được đo bằng số lượng hội thảo hay thỏa thuận được ký, mà bằng số người được đào tạo, công nghệ được đưa vào ứng dụng và những quan hệ hợp tác có thể duy trì lâu dài.

Đặc biệt, ông đề nghị đặt thế hệ trẻ vào trung tâm của chiến lược hợp tác. Việc đào tạo không chỉ nhằm tạo thêm bằng cấp, mà cần giúp người trẻ có năng lực giải quyết các bài toán thực tế và hình thành mạng lưới chuyên môn quốc tế.

Câu chuyện gắn kết các thế hệ kế tiếp cũng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Anh Huỳnh Tấn Đạt dẫn kinh nghiệm từ một cuộc thi công nghệ do Hội Sinh viên Việt Nam tại bang New South Wales tổ chức trong tháng 9 vừa qua, nơi khoảng 2/3 số thành viên ban giám khảo là người Việt thế hệ thứ hai đang làm việc tại các doanh nghiệp lớn ở Australia.

Một số người không nói được nhiều tiếng Việt nhưng vẫn tích cực dành thời gian cố vấn và hỗ trợ sinh viên. Theo anh Huỳnh Tấn Đạt, vấn đề là làm thế nào để sự tham gia này không kết thúc sau một sự kiện.

Trên cơ sở đề xuất góp ý xây dựng Nghị quyết 23, anh Huỳnh Tấn Đạt kiến nghị nghiên cứu hình thành mạng lưới hoặc Hội thanh niên kiều bào tại Australia dành cho người trẻ gốc Việt sinh ra hoặc lớn lên tại nước sở tại. Hoạt động có thể sử dụng tiếng Anh hoặc song ngữ và tập trung vào hướng nghiệp, cố vấn sinh viên, kết nối chuyên môn, khoa học – công nghệ và văn hóa.

Một kênh khác cũng cần được hình thành, dựa trên kiến nghị của Chủ tịch SVAU, là hệ thống thông tin chính thức về cơ hội nghiên cứu và việc làm trong nước. Không ít tiến sĩ trẻ hoàn thành chương trình tại Australia vẫn muốn tiếp tục nghiên cứu hoặc giảng dạy, nhưng khó tiếp cận thông tin đầy đủ về vị trí, tiêu chí tuyển chọn, điều kiện nghiên cứu và chế độ đãi ngộ tại Việt Nam. Nếu các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong nước thường xuyên cung cấp những nhu cầu đã được xác nhận, người trẻ có thể cân nhắc cơ hội từ trước khi tốt nghiệp, thay vì chỉ được tiếp cận qua các mối quan hệ riêng lẻ.

Từ những ý kiến tại Australia và New Zealand, có thể thấy, mong muốn đóng góp cho quê hương trong cộng đồng trí thức người Việt Nam sinh sống tại nước ngoài là rất lớn. Nghị quyết 23 đã mở rộng cách tiếp cận đối với nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài, từ kết nối cộng đồng sang xây dựng hệ sinh thái có khả năng liên kết và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Bước tiếp theo, theo các chuyên gia, là cụ thể hóa tinh thần đó bằng những đầu mối rõ ràng, những bài toán đủ cụ thể và các hình thức hợp tác đủ linh hoạt. Khi đó, khoảng cách địa lý sẽ không còn là trở ngại lớn đối với việc đóng góp cho quê hương.

Diệu Linh - Trung Trang - Lê Đạt/TTXVN

Dành cho bạn

 Chuẩn bị Năm APEC chủ động, chuyên nghiệp, chu đáo, hiệu quả

Chuẩn bị Năm APEC chủ động, chuyên nghiệp, chu đáo, hiệu quả

Chiều 1/10, Ủy ban Quốc gia APEC 2027 tổ chức cuộc họp lần thứ tư, đánh giá công tác chuẩn bị tổ chức Năm APEC 2027 và Hội nghị các Quan chức cao cấp không chính thức (ISOM). Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia APEC 2027 chủ trì cuộc họp.