Gần sáu thập kỷ sau ngày Tiểu đội 11 cô gái sông Hương được thành lập (1967), ký ức về những nữ chiến sĩ trẻ tham gia Chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 vẫn vẹn nguyên trong lòng những người ở lại.
Chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy, từ đầu tháng 4/1975, Ban Thường vụ Thành ủy Sài Gòn - Gia Định đã giao nhiệm vụ cụ thể cho từng lực lượng. Lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu hỗ trợ quần chúng nổi dậy, xây dựng hành lang, bàn đạp, đánh chiếm các đầu cầu vùng ven và mục tiêu trong thành phố.
Đòn tiến công chiến lược thứ hai trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 của quân ta gồm 2 chiến dịch: Chiến dịch Trị Thiên - Huế (từ ngày 5 - 26/3/1975) và Chiến dịch Đà Nẵng (từ ngày 26 - 29/3/1975).
Ngày 10/3/1975 với Chiến thắng Buôn Ma Thuột, quân và dân ta giành thắng lợi mang tính bước ngoặt trên mặt trận Tây Nguyên nói riêng và xoay chuyển cục diện chiến trường miền Nam nói chung.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân của quân và dân ta như những đợt sóng lớn đánh thẳng vào ý chí, sự kiên trì của chính giới và quân sự Mỹ trong mục tiêu theo đuổi chiến tranh xâm lược Việt Nam; gây ra “một cú sốc đột ngột”, làm đảo lộn kế hoạch tác chiến của Mỹ trên toàn bộ chiến trường và buộc Mỹ phải giải quyết cuộc chiến bằng giải pháp chính trị.
Qua quá trình chuẩn bị kỹ càng, đêm 30 và rạng sáng mùng 1 Tết Mậu Thân 1968, đồng loạt nhiều địa điểm được xem là đầu não, bất khả xâm phạm của chế độ Mỹ - ngụy đã bị lực lượng biệt động Sài Gòn tấn công, đánh chiếm. Những chiến công vang dội của Biệt động Sài Gòn sẽ còn vang mãi, ghi dấu ấn quan trọng trong lịch sử dân tộc ta.
Để bám trụ được an toàn, hiệu quả, lực lượng Biệt động Sài Gòn phải làm tốt công tác vận động quần chúng, tạo môi trường để phát triển lực lượng, chiến đấu và tồn tại lâu dài, tại chỗ. Họ sinh ra từ nhân dân và được nhân dân che chở. Đó chính là liên tục củng cố “căn cứ lòng dân”.
Đêm 30 rạng ngày 31/1/1968, quân và dân miền Nam đồng loạt tiến công và nổi dậy tại các thành phố, thị xã, nhất là tại các hang ổ của địch ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.
Ngày này cách đây 47 năm, ngày 26/4/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh chính thức mở màn. Đây là chiến dịch quyết chiến chiến lược lớn nhất của quân và dân ta đánh vào trung tâm đầu não và lực lượng quan trọng nhất của chính quyền, quân đội Nguỵ ở Sài Gòn - Gia Định và các vùng phụ cận, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chiến thắng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh mãi mãi đi vào lịch sử, khẳng định tầm vóc vĩ đại của cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, để lại nhiều bài học kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) được tạo nên từ nhiều nhân tố chủ quan và khách quan, nhưng nhân tố bao trùm có vai trò quyết định nhất chính là sự lãnh đạo của Đảng.
Mùa Xuân năm 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, quân dân ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, mở ra bước ngoặt phát triển mới cho lịch sử dân tộc. Thắng lợi nhanh chóng, triệt để ấy là minh chứng khẳng định về tài năng quân sự kiệt xuất từ Bộ Tổng tư lệnh đến bộ chỉ huy trực tiếp các chiến trường tại thời khắc xoay bản lề lịch sử.
Thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) được tạo nên từ nhiều nhân tố chủ quan và khách quan, nhưng nhân tố bao trùm có vai trò quyết định nhất chính là sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam với đường lối cách mạng đúng đắn, độc lập, tự chủ và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh tài tình, sáng tạo.
Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, nhân dân Vĩnh Long đã hưởng ứng với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, sẵn sàng cống hiến sức người, sức của phục vụ sự nghiệp đấu tranh giành độc lập.