Rõ thẩm quyền, chắc cơ chế trong hoàn thiện pháp lý kinh tế biển

Ngày 6/11, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội thảo luận tại hội trường và nghe giải trình về 4 dự án luật quan trọng thuộc lĩnh vực thuế, đấu thầu, tài nguyên môi trường biển và bảo vệ môi trường.

tuanh12.jpg
Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh, đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng trao đổi với phóng viên bên lề Quốc hội.

Xung quanh các vấn đề trọng tâm như quy hoạch không gian biển, quyền tài sản, cơ chế thử nghiệm và bảo vệ môi trường biển, phóng viên báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc trao đổi với đại biểu Trịnh Thị Tú Anh, đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng để làm rõ hơn giải pháp hoàn thiện chính sách.

Thưa đại biểu, một trong những nội dung thu hút nhiều sự quan tâm của cử tri, đại biểu là vấn đề quy hoạch không gian biển và trách nhiệm của cơ quan quản lý. Đại biểu đánh giá như thế nào về việc xác định đầu mối quản lý để khắc phục tình trạng chồng chéo hiện nay?

Tôi cho rằng việc xác định rõ một cơ quan chịu trách nhiệm chính đối với từng hoạt động sử dụng biển là cần thiết để khắc phục tình trạng chồng chéo trong quản lý. Tuy nhiên, cần phân biệt giữa trách nhiệm quản lý tổng hợp không gian biển với thẩm quyền quản lý chuyên ngành.

Quy hoạch không gian biển quốc gia phải đóng vai trò định hướng, điều phối các hoạt động khai thác, sử dụng biển, nhưng không có nghĩa là thay thế mọi quy hoạch chuyên ngành hoặc làm thay đổi thẩm quyền đã được quy định trong các luật khác.

Điều quan trọng không chỉ là xác định ai chịu trách nhiệm chính, mà còn phải làm rõ cơ quan đó có quyền quyết định đến đâu và chịu trách nhiệm như thế nào khi xảy ra xung đột. Nếu không, chúng ta có thể giảm được tình trạng nhiều cơ quan cùng quản lý, nhưng lại tạo ra một đầu mối phải chịu trách nhiệm mà không có đủ thẩm quyền để giải quyết.

Về quyền thế chấp, chuyển nhượng và góp vốn bằng quyền sử dụng khu vực biển, đây được xem là đòn bẩy để doanh nghiệp huy động nguồn lực. Đại biểu có lưu ý gì về sự khác biệt giữa quyền này và quyền sử dụng đất?

Tôi cơ bản đồng tình với việc xác lập rõ các quyền của tổ chức, cá nhân được giao hoặc thuê khu vực biển, nhất là quyền chuyển nhượng, thế chấp và góp vốn. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để doanh nghiệp có thể huy động nguồn lực đầu tư cho những dự án có quy mô lớn, thời gian thu hồi vốn dài.

Tuy nhiên, quyền sử dụng khu vực biển có những đặc thù khác với quyền sử dụng đất. Vì vậy, không nên mặc nhiên áp dụng toàn bộ cơ chế giao dịch quyền sử dụng đất cho quyền sử dụng khu vực biển.

Theo tôi, Luật cần phân định rõ quyền được xác lập theo từng hình thức giao, cho thuê hoặc đăng ký sử dụng khu vực biển; điều kiện thực hiện các giao dịch và cơ chế xử lý tài sản bảo đảm. Đặc biệt, phải làm rõ quyền của bên nhận thế chấp khi xử lý tài sản, đồng thời bảo đảm các yêu cầu về quốc phòng, an ninh, chủ quyền và bảo vệ môi trường biển.

Bên cạnh đó, việc đăng ký quyền sở hữu công trình, tài sản và đảo nhân tạo trên biển cũng đặt ra nhiều vấn đề mới. Đại biểu nhìn nhận thế nào về bước tiến này đối với các dự án năng lượng và hạ tầng lớn?

Tôi đánh giá đây là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện khung pháp lý cho các dự án kinh tế biển, đặc biệt là điện gió ngoài khơi, công trình năng lượng và hạ tầng công nghiệp trên biển.

Đối với các dự án có vốn đầu tư lớn, thời gian khai thác hàng chục năm, nhà đầu tư cần có cơ sở pháp lý rõ ràng để xác lập quyền sở hữu tài sản, huy động vốn và xử lý tài sản trong quá trình hoạt động. Việc đăng ký quyền sở hữu công trình gắn liền với khu vực biển sẽ góp phần giảm rủi ro pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động tín dụng và đầu tư.

Tuy nhiên, cần phân biệt quyền sở hữu công trình, tài sản trên biển với quyền sử dụng khu vực biển, đặc biệt đối với đảo nhân tạo. Việc xác lập quyền sở hữu công trình không đồng nghĩa với việc xác lập chủ quyền hoặc quyền sở hữu đối với vùng biển nơi công trình được xây dựng. Đây là vấn đề cần được quy định chặt chẽ, thống nhất với pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam.

Để thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong bối cảnh các mô hình kinh tế biển xanh, tuần hoàn ngày càng phát triển, dự thảo luật có đề xuất cơ chế thử nghiệm có kiểm soát. Đại biểu kỳ vọng ra sao về cơ chế này?

Tôi ủng hộ cơ chế thử nghiệm có kiểm soát vì nhiều mô hình kinh tế biển mới, như công nghệ năng lượng biển, nuôi biển công nghệ cao hay các giải pháp khai thác tài nguyên theo hướng tuần hoàn, có thể chưa được pháp luật hiện hành điều chỉnh đầy đủ.

Cơ chế này cho phép thử nghiệm các công nghệ, mô hình kinh doanh mới trong phạm vi, thời gian và điều kiện được kiểm soát, thay vì phải chờ hoàn thiện toàn bộ khung pháp lý mới được triển khai.

Tuy nhiên, thử nghiệm có kiểm soát không có nghĩa là được miễn trừ các yêu cầu về bảo vệ môi trường, an toàn và quốc phòng, an ninh. Tôi cho rằng Luật cần xác định rõ thẩm quyền cho phép thử nghiệm, trách nhiệm giám sát, tiêu chí đánh giá kết quả và cơ chế xử lý rủi ro.

Quan trọng hơn, kết quả thử nghiệm phải được sử dụng để hoàn thiện chính sách và nhân rộng những mô hình hiệu quả. Có như vậy, cơ chế này mới thực sự thúc đẩy đổi mới sáng tạo, thay vì chỉ dừng ở những dự án thí điểm riêng lẻ.

Vấn đề sức chịu tải môi trường biển đang là căn cứ quan trọng để cấp phép. Đại biểu có đề xuất cụ thể nào để công tác quản lý môi trường đạt hiệu quả thực chất?

Tôi đồng tình với việc sử dụng kết quả đánh giá sức chịu tải môi trường làm căn cứ quan trọng trong hoạt động cấp phép và giao khu vực biển. Bởi vì, một nguồn thải có thể đáp ứng đầy đủ quy chuẩn kỹ thuật, nhưng khi nhiều nguồn thải cùng tập trung vào một khu vực thì tổng lượng chất ô nhiễm vẫn có thể vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường.

Do đó, đạt quy chuẩn xả thải không đồng nghĩa với việc môi trường biển còn khả năng tiếp nhận thêm chất thải.

Theo tôi, quản lý môi trường biển cần chuyển từ kiểm soát từng nguồn thải riêng lẻ sang kiểm soát tổng tải lượng ô nhiễm trên cơ sở sức chịu tải của từng vùng biển. Tuy nhiên, để thực hiện được, Nhà nước phải có hệ thống quan trắc, dữ liệu môi trường tin cậy và cập nhật thường xuyên.

Tôi cũng đề nghị phân biệt giữa việc sử dụng sức chịu tải làm căn cứ cấp phép xả thải với căn cứ giao khu vực biển cho các hoạt động không phát sinh nguồn thải đáng kể, để bảo đảm quản lý theo mức độ rủi ro, tránh tạo thêm thủ tục không cần thiết cho doanh nghiệp.

Trân trọng cảm ơn bà!

Lê Vân/Báo Tin tức và Dân tộc

Dành cho bạn

Công viên Lê Thị Riêng: Số hài cốt liệt sĩ được quy tập tăng lên 980

Phát hiện, quy tập thêm 21 bộ hài cốt liệt sĩ trong ngày 6/11

Trong ngày 6/11, các lực lượng tìm kiếm, phát hiện và quy tập thêm 21 bộ hài cốt liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng. Như vậy, từ ngày 23/6 đến hết ngày 6/11/2026, các lực lượng đã tìm kiếm, phát hiện và quy tập được 980 hài cốt liệt sĩ, trong đó có 364 bộ kèm theo di vật.