Đối với Tuyên Quang - địa phương miền núi có địa bàn rộng, dân cư phân tán, địa hình chia cắt, việc phát triển kinh tế số không chỉ mở rộng không gian kinh doanh, nâng cao năng suất, giảm chi phí mà còn tạo thêm cơ hội đưa sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, OCOP, du lịch và dịch vụ vươn xa đến thị trường trong nước và quốc tế.
Tháo gỡ những điểm nghẽn
Đến thời điểm này, toàn tỉnh duy trì hoạt động ổn định của hơn 3.100 trạm BTS (trong đó có gần 600 trạm 5G hiện đại), mạng cáp quang đã vươn đến 100% trung tâm các xã, phường, kết hợp hệ thống truyền số liệu chuyên dùng thông suốt. Các sản phẩm chủ lực, nhất là trên 350 sản phẩm OCOP còn hiệu lực đều được gắn mã QR truy xuất nguồn gốc. Nhiều hợp tác xã, hộ kinh doanh cũng chủ động đưa nông sản lên các sàn thương mại điện tử và tổ chức livestream bán hàng thành công.
Đồng thời, hệ thống tài chính số ghi nhận hơn 1,25 triệu tài khoản thanh toán và gần 300.000 tài khoản Mobile Money cùng mạng lưới hàng chục nghìn điểm chấp nhận thanh toán quét mã QR phủ sóng từ thành thị đến nông thôn. Toàn tỉnh đã kiện toàn gần 4.000 tổ công nghệ số cộng đồng phủ kín 100% thôn, tổ dân phố, trở thành cánh tay nối dài đưa dịch vụ số đến gần hơn với người dân.
Tuy nhiên, thực tế triển khai thời gian qua cho thấy, bên cạnh những gam màu sáng, bức tranh kinh tế số tại Tuyên Quang cũng bộc lộ những điểm nghẽn. Mặc dù hạ tầng chung khá tốt, nhưng trên địa bàn tỉnh vẫn còn 57 thôn "lõm sóng"; trong đó có 22 thôn chưa có điện lưới quốc gia, gây ảnh hưởng đến việc tiếp cận dịch vụ số của nhân dân, nhất là đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
Ông Đỗ Hùng Đức, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang thừa nhận, đa số các chủ thể mới dừng lại ở mức "hiện diện số" (tạo tài khoản, lập gian hàng, dán mã QR) chứ chưa chuyển hóa thành các giao dịch thực chất, dòng tiền ổn định và chưa tối ưu hóa được chuỗi cung ứng, logistics. Cùng đó, dữ liệu kinh tế số còn phân tán, thiếu cơ sở dữ liệu đồng bộ từ cấp xã đến cấp tỉnh. Kỹ năng quản trị dữ liệu, thương mại điện tử chuyên nghiệp và an toàn thông tin của các hộ kinh doanh, hợp tác xã còn nhiều hạn chế...
Đơn cử như lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, một số doanh nghiệp, cơ sở chế biến đã sử dụng phần mềm kế toán, hóa đơn điện tử, quản lý kho, quản lý bán hàng và đơn hàng. Song ứng dụng các hệ thống quản trị tổng thể, quản lý sản xuất, quản lý chất lượng, truy xuất nguyên liệu, quản lý năng lượng, bảo trì thiết bị, cảm biến và phân tích dữ liệu còn hạn chế; chưa có số liệu đầy đủ về mức độ chuyển đổi số của doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo.
Tại các xã Đồng Văn, Mèo Vạc, Hoàng Su Phì, Nà Hang, Lâm Bình, Sơn Dương và một số địa bàn khác, doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ làm du lịch cộng đồng đã sử dụng mạng xã hội, nền tảng đặt dịch vụ và thanh toán số để quảng bá homestay, trải nghiệm, ẩm thực và sản phẩm địa phương.
Trên địa bàn có nhiều kênh nội dung số, tiêu biểu tại như các xã Lâm Bình, Thanh Thủy, Đồng Văn, phường Hà Giang 1, với gần 100 kênh YouTube, TikTok có lượng theo dõi lớn, góp phần quảng bá hình ảnh và tạo thu nhập. Tuy nhiên, dữ liệu điểm đến, cơ sở lưu trú, dịch vụ, lịch đặt, phản hồi du khách và sản phẩm địa phương chưa được chuẩn hóa đồng bộ; nhiều cơ sở phụ thuộc vào nền tảng bên thứ ba, chưa quản trị tốt dữ liệu khách hàng; kỹ năng xây dựng nội dung, bản quyền, bảo vệ hình ảnh cá nhân và ứng xử văn hóa trên môi trường số còn hạn chế...
Tạo ra chuỗi giá trị thực chất
Chủ tịch UBND xã Lâm Bình, Trương Văn Quang cho biết, cấp ủy, chính quyền coi phát triển kinh tế số là hướng đi quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, quảng bá hình ảnh và tăng thu nhập cho người dân. Xã khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất, tiêu thụ nông sản, phát triển du lịch. Định hướng đoàn viên, hội viên và nhân dân phát triển các kênh Youtube, trở thành những nhà sáng tạo nội dung và thành lập các nhóm, hội để chia sẻ, hỗ trợ nhau trong quá trình xây dựng kênh, sản xuất nội dung phù hợp xu thế và đúng quy định pháp luật. Qua đó tạo thêm việc làm, tăng thu nhập ổn định cho nhân dân; đồng thời quảng bá văn hóa, ẩm thực, cảnh quan và sản phẩm địa phương.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của không gian tăng trưởng mới, Tuyên Quang xác định chuyển đổi số và kinh tế số là nhiệm vụ phát triển kinh tế trọng tâm, đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị.
Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang Đỗ Hùng Đức, chính vì lý do đó tỉnh đã ban hành đề án phát triển kinh tế số giai đoạn 2026 - 2030; trong đó điểm cốt lõi là sự thay đổi tư duy: lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo, kiên quyết không chạy theo số lượng hình thức như số lượng tài khoản ảo, mã QR treo hay các phong trào chỉ dừng lại ở bề nổi.
Trên cơ sở tỷ trọng kinh tế số năm 2025 đạt 7,39% và mục tiêu năm 2026 đạt 7,71%, Tuyên Quang phấn đấu đưa tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đạt 20% vào năm 2030. Tối thiểu 60% doanh nghiệp nhỏ và vừa ứng dụng công nghệ số vào quản trị và sản xuất; ít nhất 5% số hộ gia đình duy trì hoạt động tạo thu nhập hợp pháp gắn với kinh tế số. Đồng thời, 100% xã, phường trong tỉnh lựa chọn, xây dựng hoặc tham gia ít nhất một mô hình kinh tế số phù hợp với lợi thế địa phương...
Để hiện thực hóa những mục tiêu này, tỉnh thực hiện các nhóm giải pháp đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm gắn với phương châm “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ kết quả. Trước mắt, tỉnh tập trung số hóa vùng nguyên liệu, mã số vùng trồng, áp dụng nhật ký sản xuất điện tử trong nông - lâm nghiệp. Chuẩn hóa dữ liệu điểm đến, cơ sở lưu trú, dịch vụ du lịch để phát triển mạnh mẽ hệ sinh thái du lịch thông minh, du lịch cộng đồng số tại các xã Nà Hang, Lâm Bình và các địa bàn trọng điểm. Hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp chế biến ứng dụng phần mềm quản trị, tự động hóa và truy xuất nguồn gốc nguyên liệu.
Bên cạnh đó, triển khai mạng lưới “Người kèm cặp số” tại cấp xã, phường. Đây là giải pháp mang tính đột phá thông qua việc mỗi xã, phường lựa chọn từ 1 - 3 thành viên nòng cốt từ tổ công nghệ số cộng đồng để trực tiếp “cầm tay chỉ việc”, đồng hành cùng các hộ gia đình, hộ kinh doanh trong thời gian từ 3 - 6 tháng, đảm bảo người dân thực sự làm chủ được công cụ số và phát sinh giao dịch thực tế.
Áp dụng khung tiêu chí đánh giá thực chất đối với hộ gia đình nhằm phân loại chính xác mức độ tham gia của các hộ gia đình, từ đó có chính sách hỗ trợ đúng chỗ, tránh thống kê hình thức. Hằng năm xây dựng lộ trình để xóa bỏ các thôn lõm sóng, ưu tiên các vùng sản xuất tập trung, điểm du lịch và các khu vực có tiềm năng phát sinh kinh tế số, đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau.
Phát triển kinh tế số ở Tuyên Quang không phải là phong trào ngắn hạn mà là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện về phương thức sản xuất và quản trị. Với đề án phát triển kinh tế số giai đoạn 2026 - 2030 cùng sự quyết tâm vào cuộc của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và người dân, Tuyên Quang đang từng bước khơi thông dòng chảy dữ liệu, biến tiềm năng thành giá trị kinh tế thực, tạo nền tảng vững chắc để vươn lên phát triển bền vững trong giai đoạn mới.