Phát triển kinh tế biển gắn với nâng cao hiệu quả quản lý môi trường

Phát biểu thảo luận về Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), đại biểu Quốc hội khẳng định, việc sửa đổi luật nhằm thể chế hóa đầy đủ quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng.

Trong đó, định hướng tập trung đẩy mạnh chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, nâng cao hiệu quả quản lý về môi trường, quản lý tổng hợp tài nguyên biển và hải đảo.

thanhtung.jpg
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày tờ trình về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi). Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

Thể chế hóa các quan điểm của Đảng

Trình bày tờ trình trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng khẳng định, việc ban hành Luật nhằm cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết số 20 và Kết luận số 75 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.

Việc ban hành Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) còn đẩy mạnh phân cấp, phân quyền phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tập trung giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn công tác bảo vệ môi trường, yêu cầu phát triển kinh tế biển, quản lý không gian biển, yêu cầu của hội nhập quốc tế. Qua đó, tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông các nguồn lực phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh, tạo môi trường pháp lý thuận lợi, minh bạch.

Thiếu tướng Lương Đình Hưng - Phó Tư lệnh Pháp luật BTL Cảnh sát biển, ĐBQH tỉnh Nghệ An cho rằng, dự thảo Luật đã bám sát và thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng tại các văn kiện, Nghị quyết quan trọng như: Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và đặc biệt là Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, trong đó nhấn mạnh yêu cầu: “Chuyển mạnh tư duy từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại; từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia biển mạnh; từ quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia".

Thiếu tướng Lương Đình Hưng cho biết: Chương III về quản lý, sử dụng không gian biển là chương hoàn toàn mới, được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015; đồng thời sửa đổi, bổ sung các quy định về phân bổ, giao, cho thuê, đăng ký và giải quyết xung đột, chồng lấn trong sử dụng không gian biển nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; phát triển các hoạt động kinh tế biển; bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển; phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.

Dự thảo Luật bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, bảo đảm tính thống nhất với hệ thống pháp luật, tương thích với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, trong đó có Công ước quốc tế về kiểm soát và quản lý nước dẫn và cặn nước dần của tàu năm 2004, Nghị định thư năm 1992 sửa đổi Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu năm 1969, Công ước quốc tế năm 2001 về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại ô nhiễm dầu nhiên liệu tàu, cơ bản đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI.

Tuy nhiên, để Dự án Luật được hoàn thiện và có tính khả thi cao hơn nữa khi triển khai thi hành trong thực tiễn, đại biểu Quốc hội Lương Đình Hưng đề nghị rà soát, thống nhất và làm rõ cơ chế phối hợp với Bộ Quốc phòng và các cơ quan an ninh, đối ngoại tại khoản 3 Điều 26, khoản 4 Điều 34 và khoản 5, khoản 6 Điều 36 của dự thảo Luật. Hiện cùng là yêu cầu lấy ý kiến về Quốc phòng - An ninh, nhưng các điều được diễn đạt không đồng nhất: Khoản 3 Điều 26 quy định “có ý kiến bằng văn bản", khoản 4 Điều 34 quy định “ý kiến thống nhất bằng văn bản”, còn khoản 5 Điều 36 chỉ quy định “phải có ý kiến”.

luongdinhhung.jpg
Đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ an Lương Đình Hưng phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

“Đề nghị thống nhất theo hướng có ‘ý kiến thống nhất bằng văn bản’ của Bộ Quốc phòng đối với dự án xây dựng đảo nhân tạo, công trình lưỡng dụng hoặc thực hiện tại đảo, quần đảo, vùng biển xa bở, khu vực nhạy cảm về Quốc phòng - An ninh, đối ngoại trước khi quyết định chủ trương đầu tư, giao, cho thuê, đăng ký sử dụng khu vực biển và trước khi chấp thuận chuyển nhượng, cho thuê lại, góp vốn”, đại biểu Lương Đình Hưng nêu ý kiến.

Tại Điều 50, Điều 51, Điều 52 của dự thảo Luật về vùng bờ, hành lang bảo vệ bờ biển và hải đảo, đại biểu đề nghị cân nhắc bổ sung quy định “lấy ý kiến của Bộ Quốc phòng" trước khi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thiết lập, điều chỉnh hành lang bảo vệ bờ biển, khoảng lùi xây dựng, bảo đảm không ảnh hưởng đến khu vực phòng thủ, công trình quốc phòng, khu vực biên giới trên biển.

Từ đó, đại biểu Quốc hội cũng đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, đối chiếu các điều khoản trong dự thảo Luật với Luật Biển Việt Nam, Luật Quốc phòng, Luật Biên phòng Việt Nam, Luật Cảnh sát biển Việt Nam, Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự, Luật Phòng thủ dân sự, Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Luật Đầu tư, Luật Quy hoạch, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Xử lý vi phạm hành chính... nhằm tránh chồng chéo, mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật, bảo đảm tính khả thi cao khi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) được Quốc hội thông qua.

Tiếp tục rà soát thể chế đầy đủ các Kết luận của Trung ương

Thay mặt cơ quan thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho biết, Ủy ban tán thành sự cần thiết sửa đổi dự án Luật. Hồ sơ được chuẩn bị đầy đủ, công phu, đủ điều kiện trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp này.

thanhhai.jpg
Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Nguyễn Thanh Hải trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

Tuy nhiên, Ủy ban đề nghị tiếp tục rà soát thể chế đầy đủ Kết luận số 75-KL/TW nội dung về “cơ chế thử nghiệm có kiểm soát” đối với mô hình kinh doanh xanh, tuần hoàn; yêu cầu “Bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường”. Ủy ban đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo chịu trách nhiệm toàn bộ về tính khả thi, minh bạch đối với các chính sách mới được đề xuất trong Luật, tuyệt đối không tạo khoảng trống hoặc điểm nghẽn mới làm phát sinh tham nhũng tiêu cực hoặc cản trở, ách tắc trong triển khai.

Dự thảo mở rộng phạm vi từ quản lý phân tán theo ngành sang quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển là bước tiến rất quan trọng, một khu vực biển có thể đồng thời sử dụng cho nhiều lĩnh vực như hàng hải, thủy sản, dầu khí, điện gió, quốc phòng, du lịch và bảo tồn,…

Tuy nhiên, để đảm bảo không chồng chéo với các luật chuyên ngành, đề nghị bổ sung nguyên tắc: Quản lý tổng hợp không gian biển không thay thế pháp luật chuyên ngành; Quy hoạch không gian biển quốc gia là căn cứ định hướng để phân bổ không gian biển nhưng giấy phép chuyên ngành sẽ quyết định điều kiện hoạt động cụ thể trong không gian biển đã được xác định.

Về cơ chế điều phối liên ngành (Điều 7), để khắc phục tình trạng “nhiều người quản nhưng không rõ trách nhiệm”; phòng ngừa và giải quyết xung đột, chồng lấn trong khai thác sử dụng biển giữa các ngành, Ủy ban đề nghị bổ sung vào Điều 7 các quy định: quy hoạch không gian biển quốc gia có hiệu lực ưu tiên cao nhất; mỗi hoạt động sử dụng biển phải có cơ quan chịu trách nhiệm chính; xác định cơ quan có thẩm quyền ra quyết định cuối cùng khi phát sinh chồng lấn, xung đột trong sử dụng không gian biển.

Về quyền sử dụng khu vực biển (Điều 24), dự thảo Luật đã quy định ba hình thức: giao, cho thuê và xác nhận đăng ký sử dụng khu vực biển. Tuy nhiên, chưa làm rõ bản chất pháp lý, quyền và nghĩa vụ của từng hình thức. Ủy ban cho rằng, đây là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với việc triển khai các dự án lớn trên biển như điện gió ngoài khơi, dự án dầu khí, nuôi biển công nghiệp và hạ tầng trên biển, vì nhà đầu tư chỉ có thể huy động được nguồn vốn dài hạn khi họ có quyền sử dụng không gian biển ổn định và có giá trị pháp lý.

Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đề nghị bổ sung quy định riêng đối với từng hình thức về: đối tượng áp dụng; quyền chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn; quan hệ của quyền sử dụng với giấy phép chuyên ngành... Quy định rõ như vậy sẽ tạo cơ sở pháp lý để định giá quyền, huy động vốn và chuyển giao dự án; bảo đảm tính khả thi.

Về đăng ký quyền sở hữu công trình, đảo nhân tạo trên biển, các dự án trên biển thường có giá trị rất lớn. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu chỉ quy định đăng ký quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đai, chưa có quy định với khu vực biển. Dự thảo Luật đã đề cập tới nội dung này, trong đó quy định Giấy chứng nhận có thể ghi nhận tài sản gắn liền với khu vực biển. Tuy nhiên, quy định mới dừng ở việc ghi nhận thông tin, chưa hình thành đầy đủ cơ chế đăng ký quyền sở hữu tài sản. Để khắc phục khoảng trống, Ủy ban đề nghị bổ sung nguyên tắc về “đăng ký quyền sở hữu công trình xây dựng, tài sản và đảo nhân tạo gắn liền với khu vực biển; làm rõ mối quan hệ giữa quyền sở hữu tài sản với quyền sử dụng khu vực biển.

Về cơ chế ưu đãi và Quỹ không gian biển, thực tiễn cho thấy, các ngành kinh tế biển mới, cần không gian để thử nghiệm công nghệ và mô hình kinh doanh mới. Dự thảo luật đã bổ sung các cơ chế ưu đãi, hỗ trợ và thử nghiệm có kiểm soát đồng thời đề xuất Quỹ không gian biển, tuy nhiên các quy định còn chung, khó áp dụng. Ủy ban đề nghị bổ sung quy định rõ tiêu chí, đối tượng, mức độ, thời hạn ưu đãi...

thaoluan.jpg
Đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh An Giang và Lai Châu thảo luận ở tổ. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

Về kiểm soát ô nhiễm từ các hoạt động trên biển, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường tán thành việc dự thảo đã bổ sung các quy định về cơ chế phục hồi môi trường, bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu, ô nhiễm xuyên biên giới. Tuy nhiên, để tránh chồng chéo với luật chuyên ngành, đề nghị sửa theo hướng Điều 55 chỉ quy định các yêu cầu đặc thù, không quy định lại giấy phép đã được pháp luật chuyên ngành điều chỉnh; bổ sung nghĩa vụ chia sẻ dữ liệu về nguồn thải, quan trắc và sự cố giữa các cơ quan.

Về sức chịu tải môi trường biển, thực tiễn cho thấy, từng nguồn thải có thể đều đạt quy chuẩn, đúng giấy phép nhưng tổng lượng thải tại một vùng biển vẫn vượt khả năng tiếp nhận của môi trường. Do vậy, Ủy ban đề nghị bổ sung quy định rõ phương pháp đánh giá, dữ liệu đầu vào, ngưỡng môi trường. Đặc biệt phải lấy kết quả đánh giá sức chịu tải của biển để làm căn cứ cho việc quy hoạch, cấp phép và giao, cho thuê khu vực biển.

Viết Tôn

Dành cho bạn

Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk thăm phố cổ Hội An

Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk thăm phố cổ Hội An

Sáng 24/10, trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Việt Nam từ ngày 24 - 26/10, Thủ tướng Cộng hòa Ba Lan Donald Tusk cùng đoàn đại biểu cấp cao Ba Lan đã đến thăm phố cổ Hội An, thành phố Đà Nẵng.

Quy hoạch phải đi trước để mở đường cho phát triển

Quy hoạch phải đi trước để mở đường cho phát triển

Ngày 24/10 đã diễn ra Phiên toàn thể và Đối thoại chính sách cấp cao trong khuôn khổ Diễn đàn Phát triển Bền vững Việt Nam năm 2026 với chủ đề: "Quy hoạch chiến lược địa phương: Phát triển - Bảo tồn - Thích ứng - Kết nối".

Tạo thuận lợi tối đa cho nhà đầu tư nhưng không nới lỏng kỷ cương pháp luật

Tạo thuận lợi tối đa cho nhà đầu tư nhưng không nới lỏng kỷ cương pháp luật

Thảo luận tại tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư sáng 24/10, các đại biểu Quốc hội đánh giá cao việc dự thảo Luật đã thể hiện sự chuyển đổi trong tư duy thu hút đầu tư, từ chú trọng quy mô vốn, số lượng dự án sang coi trọng chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ và khả năng đóng góp thực chất cho nền kinh tế.