Không ít địa phương sở hữu cảnh quan đẹp, di sản quý hay những lễ hội đặc sắc nhưng không phải nơi nào cũng có thể biến những giá trị ấy thành động lực phát triển kinh tế bền vững. Với Tuyên Quang, văn hóa không còn chỉ hiện diện trong các bảo tàng, lễ hội hay ký ức cộng đồng mà đang từng bước khẳng định vai trò là nguồn lực nội sinh, tạo nên sức hấp dẫn riêng cho du lịch.
Những ngôi nhà trình tường của người Mông trên Cao nguyên đá Đồng Văn, lễ cúng rừng của người Nùng, điệu múa của người Pà Thẻn, tiếng trống đồng của người Lô Lô, những đồi chè Shan tuyết cổ thụ hay các bản du lịch cộng đồng giữa núi rừng... đang được kết nối thành trải nghiệm giàu bản sắc, góp phần đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh.
Những giá trị được gìn giữ qua nhiều thế hệ
Hầu hết các điểm đến hấp dẫn nhất của Tuyên Quang là đều mang đậm dấu ấn văn hóa bản địa. Du khách tìm đến Lũng Cú không chỉ để chạm tay vào cột cờ nơi địa đầu Tổ quốc mà còn để ngủ trong những ngôi nhà trình tường của người Lô Lô, nghe câu chuyện về chiếc váy thêu thủ công, thưởng thức bữa cơm truyền thống và cảm nhận nhịp sống bình yên giữa bản làng. Đến Khâu Vai, điều níu chân du khách không chỉ là cảnh sắc miền đá mà còn là sức sống của chợ phong lưu đã trở thành biểu tượng văn hóa độc đáo của vùng cao. Về Hoàng Su Phì hay Xín Mần, ngoài những thửa ruộng bậc thang kỳ vĩ là không gian văn hóa của đồng bào Dao, Nùng, La Chí được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Điều làm nên sức hút ấy không phải những công trình được xây dựng mới mà chính là các giá trị nguyên bản vẫn được cộng đồng bảo tồn trong đời sống hằng ngày. Từ nếp nhà, trang phục, tiếng nói, lễ hội đến nghề thủ công truyền thống, tất cả đều là chất liệu tạo nên những sản phẩm du lịch khác biệt. Du khách ngày nay không chỉ muốn ngắm cảnh mà còn mong được sống trong không gian văn hóa của điểm đến, được trực tiếp trải nghiệm, lắng nghe những câu chuyện gắn với con người bản địa. Chính xu hướng ấy mở ra cơ hội để các địa phương chuyển hóa di sản văn hóa thành lợi thế cạnh tranh.
Những năm gần đây, Tuyên Quang xác định phát triển du lịch phải gắn với bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc. Thay vì khai thác đơn lẻ từng danh lam hay lễ hội, nhiều địa phương chú trọng xây dựng không gian trải nghiệm, nơi văn hóa hiện diện trong từng hoạt động của người dân. Từ những homestay mang kiến trúc truyền thống, các làng nghề, sản phẩm OCOP đến chương trình biểu diễn dân ca, dân vũ, tất cả đều góp phần kéo dài thời gian lưu trú và nâng cao giá trị chi tiêu của du khách.
Thiếu nữ dân tộc Lô Lô trong trang phục truyền thống, điểm tô nét duyên dáng cho làng du lịch cộng đồng nơi cực Bắc Tổ quốc. Ảnh: Minh Tâm/TTXVN
Quan điểm phát triển văn hóa gắn với phát triển kinh tế, xã hội, khai thác giá trị di sản đi đôi với bảo tồn luôn được lãnh đạo tỉnh Tuyên Quang nhấn mạnh trong nhiều nghị quyết, chương trình và các kỳ họp HĐND tỉnh. Theo ông Nguyễn Văn Sơn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Tuyên Quang, phát triển du lịch phải dựa trên nền tảng bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, để mỗi di sản không chỉ được gìn giữ mà còn trở thành nguồn lực cho phát triển bền vững.
Đáng chú ý, nhiều giá trị từng đứng trước nguy cơ mai một nay lại có cơ hội hồi sinh nhờ du lịch. Nghề dệt lanh của người Lô Lô, nghề chế biến chè Shan tuyết, nghề chạm bạc của người Dao, các nghi lễ truyền thống, những làn điệu dân ca… không chỉ được bảo tồn mà còn tạo thêm sinh kế cho người dân. Khi một sản phẩm văn hóa có thể tạo thu nhập, cộng đồng sẽ có thêm động lực để gìn giữ và truyền lại cho thế hệ sau. Đó là mối quan hệ hai chiều giữa bảo tồn văn hóa và phát triển kinh tế mà nhiều địa phương đang hướng tới.
Một góc làng du lịch cộng đồng Lô Lô Chải nhộn nhịp, thu hút du khách đến tham quan, trải nghiệm. Ảnh: Minh Tâm/TTXVN
Là người gắn bó nhiều năm với công tác bảo tồn văn hóa của đồng bào Nùng, bà Lù Thị Chỉnh, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Pờ Ly Ngài cho rằng, phát triển du lịch chỉ thực sự bền vững khi các giá trị truyền thống vẫn được cộng đồng gìn giữ bằng sự tự nguyện và lòng tự hào. Theo bà Chỉnh, lễ cúng rừng, những làn điệu dân ca hay các phong tục truyền thống không phải là “tiết mục biểu diễn” mà là một phần đời sống của người dân. Khi du khách đến để tìm hiểu, trân trọng và cùng gìn giữ những giá trị ấy, văn hóa sẽ có thêm sức sống, đồng thời tạo thêm sinh kế cho người dân địa phương.
Sáu tháng đầu năm 2026, Tuyên Quang đón hơn 2,09 triệu lượt khách, doanh thu du lịch đạt gần 5.857 tỷ đồng. Những con số ấy phản ánh sự tăng trưởng của ngành du lịch nhưng điều quan trọng hơn là cho thấy bản sắc văn hóa ngày càng trở thành yếu tố quyết định sức hấp dẫn của điểm đến. Trong bối cảnh nhiều địa phương cùng đầu tư hạ tầng và dịch vụ, chính sự khác biệt về văn hóa là lợi thế khó sao chép.
Kiến tạo hệ sinh thái du lịch từ bản sắc văn hóa
Nếu trước đây du lịch chủ yếu khai thác từng điểm đến riêng lẻ, hiện nay, Tuyên Quang đang từng bước hình thành hệ sinh thái du lịch dựa trên sự kết nối giữa thiên nhiên, văn hóa và cộng đồng. Một hành trình có thể bắt đầu từ hồ Na Hang, tiếp nối với những bản làng du lịch cộng đồng, khám phá vùng chè Shan tuyết cổ thụ, trải nghiệm các lễ hội truyền thống rồi kết thúc trên Cao nguyên đá Đồng Văn. Mỗi điểm đến đều mang dấu ấn riêng nhưng được liên kết bằng câu chuyện chung về văn hóa và con người.
Theo ông Lê Quang Huy, Quản lý vận hành Panhou Retreat - một trong những khu nghỉ dưỡng sinh thái tiêu biểu của tỉnh, điều khiến nhiều du khách trong và ngoài nước lựa chọn quay trở lại không chỉ là cảnh quan thiên nhiên mà còn bởi những trải nghiệm văn hóa bản địa. Từ kiến trúc mang đậm dấu ấn người Dao, ẩm thực truyền thống, tắm lá thuốc đến những câu chuyện về phong tục, tập quán của đồng bào đều trở thành một phần trong hành trình khám phá. Theo ông Huy, khi văn hóa được gìn giữ nguyên bản và được kể bằng chính người địa phương, đó sẽ là sản phẩm du lịch có giá trị lâu bền nhất.
Cùng với đầu tư hạ tầng, tỉnh chú trọng phát triển sản phẩm du lịch gắn với nông nghiệp, văn hóa và sinh thái. Những sản phẩm OCOP không chỉ xuất hiện trên kệ hàng mà mang theo câu chuyện của vùng đất. Những cây chè cổ thụ hàng trăm năm tuổi không chỉ tạo ra sản phẩm đạt chuẩn quốc gia mà còn mở ra các tour trải nghiệm từ nương chè đến bàn trà. Những lễ hội truyền thống không còn diễn ra khép kín trong cộng đồng mà trở thành sự kiện thu hút du khách, đồng thời vẫn giữ được giá trị nguyên gốc.
Chuyển đổi số đang góp phần đưa văn hóa đến gần hơn với du khách. Hoạt động quảng bá trên nền tảng số, các sản phẩm truyền thông đa phương tiện, bản đồ du lịch thông minh, cùng sự tham gia ngày càng tích cực của người dân và doanh nghiệp giúp hình ảnh Tuyên Quang lan tỏa rộng hơn. Khi mỗi người dân trở thành một "đại sứ" giới thiệu văn hóa quê hương, sức hấp dẫn của điểm đến không chỉ đến từ phong cảnh mà còn từ sự thân thiện, hiếu khách và những câu chuyện giàu bản sắc.
Điều đáng mừng là tư duy phát triển du lịch của nhiều địa phương đã có sự thay đổi. Thay vì chạy theo những công trình nhân tạo hay sản phẩm na ná nhau, các địa phương chú trọng khai thác lợi thế riêng, lấy văn hóa làm nền tảng để tạo dấu ấn. Chính cách làm ấy giúp mỗi vùng đất giữ được bản sắc, đồng thời tránh nguy cơ đồng nhất hóa sản phẩm du lịch.
Chỉ khi những giá trị truyền thống tiếp tục được gìn giữ trong đời sống cộng đồng, được trao truyền qua nhiều thế hệ và mang lại sinh kế cho chính người dân, văn hóa mới thực sự trở thành nguồn lực phát triển bền vững. Bảo tồn và phát triển không còn là hai mục tiêu tách biệt mà bổ trợ cho nhau, cùng tạo nên sức sống lâu dài cho điểm đến.
Có thể thấy, khi những giá trị văn hóa được gìn giữ trong đời sống cộng đồng, được kể bằng chính con người đang sống cùng di sản và chuyển hóa thành trải nghiệm chân thực cho du khách, văn hóa sẽ không chỉ là ký ức mà trở thành nguồn lực cho hiện tại và tương lai. Đó cũng là con đường để du lịch Tuyên Quang phát triển bền vững bằng chính bản sắc riêng của mình./.