Theo hướng dẫn của Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường về triển khai các nội dung môi trường thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I từ 2026-2030, bảo vệ môi trường nông thôn tập trung đồng bộ hạ tầng, phát triển đồng bộ hệ thống thu gom, xử lý nước thải và quản lý chất thải rắn phù hợp với điều kiện từng địa bàn, quản lý chất thải tuần hoàn, kiểm soát ô nhiễm và tăng cường vai trò giám sát cộng đồng dân.
Tránh công trình thiếu đồng bộ, không phù hợp, kém hiệu quả
Việc đầu tư hạ tầng phải gắn với quy hoạch, đánh giá hiện trạng, dự báo nhu cầu và phương án quản lý, vận hành sau đầu tư, tránh tình trạng công trình thiếu đồng bộ, công suất không phù hợp hoặc hoạt động kém hiệu quả.
Tại những địa bàn chưa có đầy đủ cơ sở quy hoạch, địa phương cần điều tra, khảo sát, thu thập số liệu về dân số, hạ tầng, lượng nước thải, chất thải rắn phát sinh và khả năng tiếp nhận của môi trường. Trên cơ sở đó, xác định khu vực quá tải, thiếu hạ tầng hoặc có nguy cơ ô nhiễm để lựa chọn phương án đầu tư phù hợp.
Đối với nước thải, cần xác định mạng lưới và lưu vực thoát nước, vị trí, quy mô công trình xử lý, trạm bơm và các hạng mục phụ trợ. Bên cạnh hệ thống tập trung, các giải pháp xử lý phân tán, theo cụm dân cư hoặc tại chỗ được khuyến khích tại khu vực chưa thể kết nối với mạng lưới chung. Tùy điều kiện thực tế, có thể áp dụng bể tự hoại, bể lọc kỵ khí, hồ sinh học, bãi lọc trồng cây hoặc công nghệ phù hợp khác, bảo đảm nước thải sau xử lý đáp ứng quy chuẩn môi trường.
Với chất thải rắn, cách tiếp cận chuyển từ thu gom, xử lý đơn thuần sang quản lý toàn bộ chuỗi: từ phân loại tại nguồn, thu gom, lưu giữ, vận chuyển đến tái sử dụng, tái chế và xử lý cuối cùng. Hệ thống thu gom phải phù hợp với đặc điểm dân cư, địa hình, giao thông; đồng thời bảo đảm phương tiện, thiết bị, nhân lực, điểm tập kết, trạm trung chuyển và cơ sở xử lý.
Hộ gia đình, trường học, cơ sở dịch vụ, cơ sở sản xuất nhỏ và cộng đồng dân cư cần được hướng dẫn phân loại và kết nối với mạng lưới thu gom phù hợp. Chất thải hữu cơ được khuyến khích xử lý tại chỗ hoặc theo cụm bằng ủ compost, hầm biogas và các mô hình sinh học. Phụ phẩm nông nghiệp, chất thải chăn nuôi có thể tận dụng như nguồn nguyên liệu; chất thải có khả năng tái chế được thu gom, chuyển giao cho cơ sở phù hợp.
Để hạ tầng phát huy hiệu quả, địa phương cần ban hành quy chế quản lý, phân công rõ trách nhiệm, bố trí nhân lực, kinh phí và tổ chức vận hành thường xuyên. Đồng thời, ứng dụng công nghệ thông tin, số hóa dữ liệu để theo dõi, giám sát quá trình thu gom, xử lý.
Cùng với nguồn lực nhà nước, cần khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã và các tổ chức tham gia đầu tư, gắn xã hội hóa với kinh tế tuần hoàn và trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý môi trường nông thôn theo hướng bền vững.
Điều tra hiện trạng phát sinh chất thải, phát huy vai trò từ cơ sở
Theo hướng dẫn, các địa phương cần điều tra hiện trạng phát sinh chất thải, theo dõi diễn biến qua từng giai đoạn và dự báo xu hướng trong những năm tiếp theo. Từ đó, xây dựng phương án quản lý phù hợp, ưu tiên giảm phát sinh, phân loại tại nguồn, tái sử dụng, tái chế và hạn chế chôn lấp.
Đối với các khu vực có nguy cơ ô nhiễm cao, nhất là nơi tập trung nhiều nguồn thải, làng nghề, khu dân cư hoặc các khu vực mặt nước bị suy giảm chất lượng, yêu cầu đặt ra là phải xác định đúng nguồn gây ô nhiễm để có giải pháp xử lý đúng trọng tâm.
Địa phương cần thống kê các nguồn phát thải, tổ chức lấy mẫu, phân tích chất lượng môi trường, đánh giá khả năng tiếp nhận và sức chịu tải của môi trường. Dữ liệu nguồn thải từng bước được số hóa, xây dựng bản đồ phục vụ theo dõi, kiểm soát và ra quyết định.
Với các kênh mương, ao hồ bị ô nhiễm, xử lý không chỉ dừng ở việc vớt rác trên mặt nước. Cần kiểm kê các nguồn thải trong toàn lưu vực, kiểm soát nguồn xả, cải thiện dòng chảy, nạo vét bùn đáy tại những khu vực cần thiết và từng bước xây dựng bản đồ số chất lượng nước mặt.
Cách tiếp cận theo lưu vực giúp chuyển từ xử lý từng điểm ô nhiễm sang quản lý tổng thể các nguồn tác động, qua đó nâng cao hiệu quả phục hồi môi trường.
Đối với làng nghề, địa phương cần đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung; bố trí khu vực lưu giữ chất thải đặc thù; quản lý bùn thải và áp dụng công nghệ phù hợp với từng loại hình sản xuất.
Những cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng nhưng không thể xử lý hiệu quả tại chỗ cần được xây dựng lộ trình di dời, chuyển đổi ngành nghề hoặc tổ chức lại sản xuất gắn với các khu, cụm sản xuất tập trung.
Cùng với việc đầu tư và kiểm soát, cộng đồng được xác định là một chủ thể trực tiếp tham gia bảo vệ môi trường.
Các tổ tự quản bảo vệ môi trường tại thôn, bản, cụm dân cư cần được duy trì với sự tham gia của người có uy tín, các đoàn thể và người dân. Nội dung bảo vệ môi trường, giám sát nguồn thải có thể được lồng ghép vào hương ước, quy ước cộng đồng, tạo cơ chế để mỗi người dân cùng tham gia và cùng chịu trách nhiệm.
Việc tăng cường kết nối giữa người dân và cơ quan quản lý được chú trọng. Người dân có thể cung cấp thông tin, hình ảnh, video về các hành vi gây ô nhiễm để cơ quan chức năng tiếp nhận, kiểm tra và xử lý theo quy định.
Việc công khai thông tin về chất lượng môi trường, các nguồn thải và cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm cũng góp phần tăng tính minh bạch, nâng cao trách nhiệm của cơ sở sản xuất và tạo điều kiện để cộng đồng tham gia giám sát. Đây cũng là yêu cầu để tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới chuyển từ “đạt chuẩn” sang duy trì chất lượng môi trường sống bền vững cho người dân...