Phát huy giá trị Công viên địa chất, tạo sinh kế cho người dân

Kể từ khi Công viên địa chất Non nước Cao Bằng được UNESCO chính thức ghi danh vào Mạng lưới Công viên địa chất Toàn cầu năm 2018, tỉnh Cao Bằng đã bền bỉ chuyển hóa các khuyến nghị quốc tế thành những chương trình hành động cụ thể.

Qua hai kỳ tái thẩm định liên tiếp đạt “Thẻ xanh” và mở rộng kết nối với 241 Công viên địa chất thuộc 51 quốc gia, địa phương không chỉ bảo tồn thành công vùng di sản quý giá mà còn biến giá trị nội sinh này thành động lực thúc đẩy du lịch bứt phá, chuyển hóa trực tiếp thành sinh kế bền vững cho người dân.

Nhờ sự hướng dẫn của Ban quản lý Công viên địa chất, nhiều nông dân Cao Bằng đã khôi phục nghề truyền thống phục vụ du lịch, ổn định cuộc sống.
Nhờ sự hướng dẫn của Ban quản lý Công viên địa chất, nhiều nông dân Cao Bằng đã khôi phục nghề truyền thống phục vụ du lịch, ổn định cuộc sống.

Ông Tô Vũ Ninh, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Cao Bằng khẳng định, danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO không dừng lại ở một danh xưng hình thức mà đã giúp địa phương giải thành công bài toán hài hòa giữa bảo tồn di sản và phát triển kinh tế, đưa Cao Bằng trở thành trung tâm du lịch di sản, thiên nhiên và văn hóa tầm vóc quốc tế.

Nền tảng của sự bứt phá này bắt nguồn từ một kho báu di sản đặc biệt kết hợp giữa giá trị địa chất tầm vóc thế giới, hệ sinh thái đa dạng và bề dày lịch sử - văn hóa bản địa.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Trần Tân Văn, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Công viên địa chất Non nước Cao Bằng lưu giữ gần 500 triệu năm lịch sử tiến hóa của trái đất với hệ thống hóa thạch, tầng đá cổ, hang động, thác nước và địa hình karst tiêu biểu, đóng vai trò như một "cuốn sách mở" về lịch sử tự nhiên khu vực Đông Nam Á.

Bao bọc không gian ấy là hệ sinh thái rừng nhiệt đới trên núi đá vôi cùng những danh thắng kỳ vĩ như thác Bản Giốc, động Ngườm Ngao, hồ Thang Hen, núi Mắt Thần. Song song đó, văn hóa của các dân tộc Tày, Nùng, H'Mông, Dao... chính là "linh hồn" di sản, thể hiện qua các làng nghề truyền thống như rèn dao Phúc Sen, làm hương Phja Thắp, giấy bản Dìa Trên, ngói máng Lũng Rì hay làng đá cổ Khuổi Ky, kết hợp cùng các di tích lịch sử cách mạng tiêu biểu như Khu di tích quốc gia đặc biệt Pác Bó, Rừng Trần Hưng Đạo và Địa điểm Chiến thắng Biên giới 1950.

Để đưa di sản vào đời sống, Cao Bằng đã vận hành Công viên địa chất theo mô hình “bảo tàng ngoài trời” thông qua 5 tuyến trải nghiệm: “Hành trình về nguồn cội”, “Khám phá Phja Oắc - Vùng núi của những đổi thay”, “Trải nghiệm văn hóa bản địa ở xứ sở thần tiên”, “Một thời hoa lửa” và tuyến kết nối với Công viên địa chất Toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang). Mô hình này đã chuyển dịch phương thức quản trị sang chuẩn mực quốc tế theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”: chính quyền giữ vai trò định hướng cơ chế, hỗ trợ chuyên môn và kết nối, còn người dân trực tiếp tham gia bảo vệ di sản, vận hành dịch vụ và hưởng lợi.

Giá trị cốt lõi và nhân văn nhất chính là việc cộng đồng dân cư trở thành chủ thể được hưởng lợi trực tiếp từ du lịch. Sau khi gia nhập mạng lưới, lượng du khách đến Cao Bằng duy trì mức tăng trưởng bình quân 20% - 30%/năm (ngoại trừ giai đoạn dịch bệnh). Dòng khách lan tỏa khắp các tuyến trải nghiệm thay vì chỉ tập trung ở các điểm truyền thống.

Người dân xóm Dìa Trên, xã Quảng Uyên đã khôi phục và phát triển nghề làm giấy bản để phục vụ khách du lịch.
Người dân xóm Dìa Trên, xã Quảng Uyên đã khôi phục và phát triển nghề làm giấy bản để phục vụ khách du lịch.

Tại các địa phương như xóm Khuổi Ky (Trùng Khánh), Pắc Rằng (Quảng Hòa), Khuổi Khon (Bảo Lạc), người dân chuyển từ nông nghiệp thuần túy sang làm homestay, dẫn tour, phục vụ ẩm thực, giúp thu nhập của các hộ làm du lịch cộng đồng tăng gấp 3 đến 5 lần. Nhu cầu của du khách cũng tạo đầu ra ổn định cho nông sản, sản phẩm OCOP và hàng thủ công như hạt dẻ Trùng Khánh, miến đắng Phia Đén, lạp sườn, dao Minh Kiến... Đồng thời, du lịch phát triển giúp giải quyết việc làm tại chỗ cho thanh niên, hạn chế tình trạng ly hương.

Tại xã Quảng Uyên, việc bảo tồn làng nghề gắn với du lịch đã ghi nhận hiệu quả rõ rệt. Bà Hoàng Thị Kính, chủ homestay Nùng An (bản Phia Thắp) chia sẻ, việc kết hợp lưu trú với hướng dẫn du khách trải nghiệm các đoạn làm hương truyền thống không chỉ nâng cao thu nhập mà còn khơi dậy trách nhiệm giữ gìn văn hóa dân tộc.

Nhờ chủ trương phát triển du lịch, nhiều nét văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc tỉnh Cao Bằng được giữ gìn và phát triển.

Nhờ chủ trương phát triển du lịch, nhiều nét văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc tỉnh Cao Bằng được giữ gìn và phát triển.

Tương tự, chị Nông Thị Liêm (xóm Lũng Dìa Trên) cho biết từ khi được Ban Quản lý Công viên địa chất hướng dẫn phát triển dịch vụ trải nghiệm nghề làm giấy bản từ năm 2020 đến nay, thu nhập của gia đình chị đã ổn định từ 10 đến 20 triệu đồng mỗi tháng. Quan trọng hơn, nhận thức của người dân đã thay đổi sâu sắc: khi thấy thiên nhiên, nhà sàn đá, điệu hát Then, tiếng đàn Tính giúp tạo ra thu nhập, cộng đồng đã tự giác bảo vệ rừng, giữ gìn môi trường và không gian kiến trúc cổ.

Đồng hành cùng sự phát triển của cộng đồng, Ban Quản lý Công viên địa chất Non nước Cao Bằng cùng các cơ quan chức năng đã triển khai hàng loạt chương trình hỗ trợ thiết thực. Bà Hoàng Thị Huệ, Phó Giám đốc Ban Quản lý cho biết đơn vị thường xuyên mở các lớp tập huấn kỹ năng thuyết minh, quản lý du lịch, phòng chống giảm thiểu rủi ro thiên tai và tai biến địa chất cho người dân; tổ chức các chuyến học tập kinh nghiệm thực tế tại Lạng Sơn, Ninh Bình; khôi phục làng nghề và xây dựng Mạng lưới đối tác kết nối hộ dân với doanh nghiệp lữ hành. Công tác giáo dục di sản cũng được đẩy mạnh thông qua mô hình “Câu lạc bộ cùng em khám phá Công viên địa chất” và giảng dạy tích hợp trong học đường.

Song song đó, công tác quảng bá hình ảnh địa phương trên các nền tảng số và tại các sự kiện quốc tế được đặc biệt chú trọng. Kênh thông tin song ngữ "Cao Bang Geopark" cập nhật hơn 130 điểm di sản đã trở thành "cửa sổ số" thu hút du khách và các nhà nghiên cứu.

Ông Nicolas, du khách đến từ Pháp chia sẻ, ông và gia đình đã quay lại Cao Bằng nhiều lần nhờ tìm hiểu thông tin qua website và bị thuyết phục bởi những trải nghiệm văn hóa bản địa chân thực như nhuộm chàm, làm giấy bản, làm hương. Bên cạnh đó, các gian hàng quảng bá tại sự kiện lớn như Hội nghị Mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 9 tại Malaysia đã đưa đặc sản OCOP và văn hóa Cao Bằng vươn xa. Đội ngũ cán bộ địa phương cũng chủ động chia sẻ kinh nghiệm quản trị, phát triển du lịch cộng đồng cho các đối tác quốc tế từ Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia...

Người dân xóm Dìa Trên, xã Quảng Uyên đã khôi phục và phát triển nghề làm giấy bản để phục vụ khách du lịch.
Người dân xóm Dìa Trên, xã Quảng Uyên đã khôi phục và phát triển nghề làm giấy bản để phục vụ khách du lịch.

Những nỗ lực đồng bộ đã mang lại thành quả ấn tượng: Nếu năm 2019 Cao Bằng đón 1,54 triệu lượt khách, thì đến năm 2025, tổng lượng khách đã bứt phá vượt mốc 2,5 triệu lượt, trong đó khách quốc tế đạt trên 97.000 lượt (tăng hơn 121% so với năm 2024), mang lại tổng thu du lịch đạt trên 2.400 tỷ đồng.

Sự tăng trưởng bứt phá về kinh tế cùng uy tín gia tăng trong Mạng lưới Công viên địa chất Toàn cầu là minh chứng sinh động cho thấy Cao Bằng đã phát huy hiệu quả sức mạnh mềm di sản, mở ra con đường hội nhập sâu rộng và nâng cao đời sống cho nhân dân vùng địa đầu Tổ quốc. Trong thời gian tới, tỉnh sẽ tiếp tục mở rộng các tuyến trải nghiệm mới, nâng cao chất lượng dịch vụ và ưu tiên phân bổ lợi ích du lịch đồng đều đến các thôn bản vùng sâu, vùng xa.

Bài và ảnh: Quốc Đạt/TTXVN