Từ một công việc từng bị xem là gánh nặng "giữ hộ" nhà nước, việc bảo vệ rừng nay đã mang lại nguồn thu nhập, giúp bà con đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ sống được mà còn làm giàu từ đại ngàn.
cùng nhau đi tuần tra, kiểm soát rừng.
Xã Đặng Thùy Trâm có tỷ lệ che phủ rừng lên tới gần 78%, thuộc nhóm cao nhất tỉnh. Rừng tại xã sở hữu hệ sinh thái tự nhiên đa tầng, thảm thực vật phong phú cùng nguồn nước đầu nguồn trong lành. Để giữ gìn màu xanh ấy, lực lượng kiểm lâm đã phối hợp chặt chẽ với các tổ cộng đồng ngày đêm tuần tra, canh gác.
Theo ông Phạm Văn Sơn (thuộc Hạt Kiểm lâm Khu vực IV, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi), lực lượng chức năng thường xuyên hướng dẫn các cộng đồng thay phiên nhau tuần tra, kịp thời nắm bắt tình hình để báo cáo chính quyền địa phương và kiểm lâm nhằm ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm. Nhờ ý thức trách nhiệm cao của người dân trong việc kết hợp tuần tra bảo vệ rừng với khai thác lâm sản phụ hợp lý dưới tán rừng như thu hoạch mây, trong năm qua, địa bàn xã không ghi nhận bất kỳ vụ vi phạm nào liên quan đến phá rừng hay khai thác trái phép.
Sức sống của đại ngàn không chỉ đến từ ý thức cộng đồng mà còn được nuôi dưỡng bởi các chính sách tài chính thiết thực. Với tổng diện tích quy hoạch lâm nghiệp khoảng 17.000 ha (chiếm 90% diện tích toàn xã), trong đó có 8.500 ha rừng phòng hộ, Quỹ Bảo vệ môi trường, Phát triển rừng và Phòng, chống thiên tai tỉnh Quảng Ngãi hằng năm chi trả khoảng 472 triệu đồng cho gần 969 ha do các tổ cộng đồng trực tiếp quản lý.
cùng nhau đi tuần tra, kiểm soát rừng.
Ông Nguyễn Văn, Phó Chủ tịch UBND xã Đặng Thùy Trâm cho biết rằng nhờ nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng, nhận thức và sinh kế của người dân trong công tác quản lý, bảo vệ rừng đã được nâng lên rõ rệt. Diện tích rừng được quản lý bền vững, qua đó tạo tiền đề quan trọng để địa phương tập trung phát triển các mô hình sinh kế dưới tán rừng; đồng thời khảo sát, khai thác các tuyến du lịch trekking khám phá thiên nhiên như thác Kim Đá Rừng và trải nghiệm văn hóa tại thôn Bồ Hồi.
Dòng tiền từ dịch vụ môi trường rừng đã chạm đến từng hộ gia đình, góp phần thay đổi diện mạo thôn bản. Hơn 7.000 ha rừng phòng hộ giao khoán cho người dân đang phát huy hiệu quả kinh tế cao, tiêu biểu là mô hình trồng cây mây nước dưới tán rừng.
Ông Phạm Văn Bảy, Tổ trưởng Tổ cộng đồng Bùi Hui cho biết nguồn quỹ được phân bổ hợp lý: một phần dùng cho các hoạt động sinh hoạt của tổ, đầu tư hạ tầng nông thôn như làm đường, mua sắm thiết bị nhà văn hóa, phần còn lại hỗ trợ trực tiếp cho các hộ nghèo và người cao tuổi dựa trên ngày công lao động thực tế. Bên cạnh đó, các mô hình kinh tế như trồng mây dưới tán rừng với giá thu mua ổn định (khoảng 8.000 đồng/kg) đang mang lại nguồn thu nhập đều đặn cho bà con.
Trong khi đó, anh Phạm Văn Vun (thành viên Tổ cộng đồng Bùi Hui) chia sẻ, năng suất khai thác mây dao động từ 65 đến 70 kg mỗi ngày. Người dân thường linh hoạt điều chỉnh thời điểm thu hoạch dựa theo biến động giá thị trường để đảm bảo hiệu quả kinh tế tối ưu và duy trì sự phát triển bền vững của cây trồng. Đồng quan điểm, ông Phạm Văn Thai (thành viên Tổ cộng đồng Bùi Hui) bày tỏ sự phấn khởi khi nguồn thu từ dịch vụ bảo vệ rừng kết hợp phát triển kinh tế dưới tán cây đã giúp gia đình ổn định cuộc sống. Đồng thời, ông cũng bày tỏ kỳ vọng sớm được tham gia các mô hình du lịch trekking để đón tiếp du khách và gia tăng thu nhập từ chính cảnh đẹp quê hương.
Trong khi đó, tại xã Kon Plông, nơi có hơn 4.000 ha rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng, rừng được giao cho 18 cộng đồng và 47 hộ gia đình quản lý, bảo vệ. Cộng đồng thôn Vi KLâng 2 quản lý, bảo vệ hơn 135 ha rừng, với diện tích quy đổi 122 ha được hưởng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng từ năm 2016.
Ông A Chờn, Tổ trưởng Tổ cộng đồng thôn Vi KLâng 2 cho biết, toàn cộng đồng có 110 hộ tham gia quản lý, bảo vệ rừng. Để triển khai công việc, thôn đã chia thành các tổ nhỏ, mỗi tổ khoảng 10 – 20 thành viên, tổ chức tuần tra, kiểm soát mỗi tháng ít nhất 1 lần. Nhờ việc bảo vệ rừng tốt, năm 2025, cộng đồng thôn Vi KLâng 2 nhận được hơn 100 triệu đồng.
“Số tiền nhận được, tôi chia cho các hộ tham gia quản lý, bảo vệ rừng dựa trên ngày công đi rừng thực tế. Bà con tham gia ai cũng vui, vì vừa có tiền bảo vệ rừng để trang trải cuộc sống, vừa thu nhặt được các sản vật từ rừng như măng, đọt mây mang bán. Từ việc phá rừng làm nương rẫy, bây giờ bà con rất biết bảo vệ rừng, vì chính rừng đã mang lại nguồn thu nhập cho bà con”, ông A Chờn nói.
Ông Lê Thành Diễn, Phó Chủ tịch UBND xã Kon Plông đánh giá, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã mang lại nhiều hiệu quả rõ nét. Ở khía cạnh bảo vệ rừng, các diện tích rừng hưởng chính sách thường xuyên được các cộng đồng dân cư, hộ gia đình nhận khoán tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các vụ việc vi phạm luật lâm nghiệp phát sinh ngay từ ban đầu. Nhờ đó, kể từ sau thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, trên địa bàn xã không xảy ra tình trạng phá rừng, đốt rừng làm nương rẫy.
Ở góc độ kinh tế, các diện tích rừng hưởng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã tạo thu nhập cho cộng đồng dân cư cũng như các hộ gia đình. Bên cạnh thu nhập từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, các hộ dân, cộng đồng còn khai thác các sản vật từ rừng, khai thác các tour, tuyến du lịch trong rừng cũng như khảo sát thêm các vị trí có thể xây dựng tuyến khai thác du lịch trong rừng để mở rộng phát triển mô hình du lịch gắn với bảo vệ rừng, tạo thêm thu nhập cho bà con.
“Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã tạo công ăn, việc làm cho người dân địa phương; không tạo ra sự tranh chấp, xâm lấn giữa diện tích canh tác của người dân với diện tích rừng. Những hiệu quả đó không chỉ giúp đời sống của người dân dần được cải thiện, mà còn thay đổi nhận thức của người dân về công tác quản lý, bảo vệ rừng, cùng chung tay giữ màu xanh cho những cánh rừng trên địa bàn xã”, ông Lê Thành Diễn khẳng định.