Nhật Bản thúc đẩy phát triển tàu chạy bằng amoniac

Bảy doanh nghiệp Nhật Bản, trong đó có hãng vận tải biển NYK Line và nhà sản xuất điện JERA, hợp tác phát triển tàu chạy bằng amoniac, hướng tới giảm phát thải hàng hải với mục tiêu đưa bốn tàu vào khai thác trước năm tài chính 2030.

amoniac.png
Hãng vận tải biển lớn của Nhật Bản NYK Line, nhà sản xuất điện JERA và các công ty khác sẽ hợp tác để thúc đẩy việc sử dụng tàu chạy bằng nhiên liệu amoniac. Ảnh: NYK Line

Theo Nikkei Asia, liên minh được công bố ngày 27/10 còn có hãng vận tải biển Kawasaki Kisen Kaisha cùng các nhà đóng tàu Shin Kurushima Dockyard, Kyokuyo Shipyard, Imabari Shipbuilding và công ty con Nihon Shipyard.

NYK Line và Kawasaki Kisen sẽ đặt đóng bốn tàu chở ôtô tại Shin Kurushima Dockyard và Nihon Shipyard. Các tàu dự kiến hoàn thành trước khi kết thúc năm tài chính 2030, tức tháng 3/2031. Trong khi đó, JERA sẽ cung cấp nhiên liệu amoniac có nguồn gốc từ Ấn Độ cho đội tàu, thông qua tàu tiếp nhiên liệu chuyên dụng do Kyokuyo Shipyard đóng.

Takaya Soga, Chủ tịch NYK Line, cho biết doanh nghiệp đánh giá nhiê liệu amoniac có tiềm năng trở thành nhiên liệu thế hệ mới nhờ khả năng sản xuất quy mô lớn và triển vọng phát triển mạng lưới cung ứng.

Ông nhấn mạnh việc kết hợp công nghệ, kinh nghiệm và cơ sở hạ tầng của các ngành đóng tàu, năng lượng và vận tải biển sẽ giúp các bên đưa nhiên liệu này vào ứng dụng thực tế, đồng thời xây dựng mô hình kinh doanh an toàn, bền vững.

Hiện dầu nhiên liệu nặng vẫn là nguồn năng lượng chủ yếu của các tàu biển cỡ lớn. Tuy nhiên, Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) đặt mục tiêu đưa phát thải carbon ròng của ngành vận tải biển quốc tế về mức bằng không vào năm 2050.

Amoniac được xem là một trong những lựa chọn thay thế tiềm năng, bên cạnh hydro và methanol. Hợp chất này được sử dụng phổ biến trong sản xuất phân bón và nhiều ngành công nghiệp, đồng thời không tạo ra CO2 tại điểm đốt cháy.

Dù vậy, việc triển khai tàu chạy bằng nhiên liệu mới vẫn đối mặt nhiều thách thức. Mạng lưới cung ứng và tiếp nhiên liệu tại các cảng chưa phát triển đầy đủ, trong khi chi phí nhiên liệu thay thế vẫn cao hơn dầu nhiên liệu nặng. Điều này khiến chủ tàu khó khai thác hiệu quả nếu không có nguồn cung ổn định trên các tuyến vận tải.

Tàu chở ôtô được đánh giá phù hợp để triển khai công nghệ mới nhờ lịch trình tương đối cố định, thường kết nối các cảng xuất khẩu gần nhà máy sản xuất với những thị trường tiêu thụ lớn. Đặc điểm này giúp doanh nghiệp dễ bố trí nguồn cung nhiên liệu hơn so với tàu chở hàng rời, vốn phục vụ nhiều tuyến và điểm đến khác nhau.

Bên cạnh vận tải biển, JERA đang xây dựng chuỗi cung ứng nhiên liệu amoniac phục vụ sản xuất điện. Doanh nghiệp triển khai xây dựng bốn bồn chứa amoniac lỏng tại nhà máy nhiệt điện Hekinan, cơ sở nhiệt điện than lớn nhất Nhật Bản.

JERA dự kiến bắt đầu thương mại hóa công nghệ đồng đốt than và amoniac trong năm tài chính 2029, ban đầu thay thế 20% lượng than bằng amoniac, sau đó nâng tỷ lệ lên 50%. Về dài hạn, công ty hướng tới loại bỏ hoàn toàn nhiên liệu hóa thạch.

Việc mở rộng sử dụng nhiên liệu amoniac trong vận tải biển có thể tạo thêm nhu cầu, tăng quy mô thị trường và giúp JERA giảm chi phí mua nhiên liệu. Đối với các nhà đóng tàu, đơn hàng tập trung từ hai hãng vận tải cũng tạo điều kiện chuẩn hóa thiết kế, nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm chi phí.

Sáng kiến diễn ra khi Nhật Bản đẩy mạnh đầu tư vào ngành đóng tàu trong chiến lược tăng trưởng của Thủ tướng Sanae Takaichi. Chính phủ đặt mục tiêu tăng gấp đôi sản lượng đóng tàu trong nước vào năm 2035, với tổng vốn đầu tư công và tư nhân khoảng 1.000 tỷ yen, tương đương 6,3 tỷ USD.

Việc phát triển tàu chạy bằng amoniac vì vậy vừa phục vụ mục tiêu giảm phát thải, vừa góp phần củng cố năng lực công nghiệp hàng hải Nhật Bản. Tuy nhiên, khả năng thương mại hóa trên diện rộng vẫn phụ thuộc vào nguồn cung nhiên liệu, chi phí vận hành và tốc độ phát triển hạ tầng tiếp nhiên liệu.

Bảo Hân/Báo Tin tức và Dân tộc

Dành cho bạn

Chi phí nhập khẩu LNG toàn cầu tăng 39 tỷ USD do xung đột

Chi phí nhập khẩu LNG toàn cầu tăng 39 tỷ USD do xung đột

Theo công ty nghiên cứu năng lượng Rystad Energy, các nước nhập khẩu khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) trên thế giới dự kiến phải chi thêm ít nhất 39 tỷ USD trong năm 2026, nâng tổng chi phí lên 256,3 tỷ USD, tăng 18% so với dự báo trước khi xảy ra xung đột ở Trung Đông.