Để đánh thắng những đội quân xâm lược lớn mạnh kể cả về kinh tế và quân sự thì phải có một khoa học và nghệ thuật quân sự độc đáo, một phương thức tiến hành chiến tranh sáng tạo. Việt Nam phải dùng phương châm chiến lược đánh lâu dài, từng bước tạo lực, tạo thế, khởi đầu bằng chiến tranh du kích, từ chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy. Chúng ta từng bước làm thay đổi tương quan lực lượng trên chiến trường, tiến lên tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn.
Cách đánh giặccủa dân tộc Việt Nam
Với niềm tin tuyệt đối vào truyền thống yêu nước, tinh thần anh dũng bất khuất chống ngoại xâm của toàn dân tộc, Lãnh tụ Hồ Chí Minh khẳng định: “Địch chiếm trời, địch chiếm đất, nhưng chúng không làm sao chiếm được lòng nồng nàn yêu nước của nhân dân Việt Nam. Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể dân tộc”.
Toàn dân vũ trang là một ưu thế tuyệt đối của chiến tranh nhân dân để đánh thắng chiến tranh xâm lược của mọi kẻ thù. Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi. Sức mạnh vĩ đại và năng lực sáng tạo vô tận của quần chúng là then chốt đảm bảo thắng lợi. Để phát động toàn dân đánh giặc và đánh giặc bằng mọi vũ khí có trong tay, thực hiện mỗi quốc dân là một chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo đài, mỗi khu phố là một trận địa, cần phải phát động chiến tranh du kích. Hồ Chí Minh nói: "Mục đích của du kích chiến cũng không phải là ăn to đánh lớn mà phải tỉa dần, đánh làm cho nó ăn không ngon, ngủ không yên, không thở được, bị hao mòn về tinh thần và vật chất rồi đi đến chỗ bị tiêu diệt" (Hồ Chí Minh, Về vấn đề quân sự, Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr. 222).
Chiến tranh du kích là "cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc". Theo Hồ Chí Minh, đó là “một cách chiến tranh của dân chúng dùng khí giới ít và kém chống với đế quốc có khí giới tốt và nhiều".
Để tiến hành chiến tranh nhân dân, cần phải có lực lượng vũ trang nhân dân, thực hiện vũ trang quần chúng cách mạng và xây dựng quân đội nhân dân. Về quân sự, nguyên tắc chính là tập trung lực lượng, nên cần xây dựng lực lượng chủ lực. Tuy nhiên, chiến tranh nhân dân Việt Nam là của toàn dân, phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực phải có nhiệm vụ dìu dắt các đội vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành.
Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, khi quân đội đã phát triển, có khả năng tác chiến tập trung, nhưng Đảng và Hồ Chí Minh vẫn hết sức quan tâm chỉ đạo xây dựng lực lượng dân quân du kích và nhấn mạnh vai trò của chiến tranh du kích: "Dân quân tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận kẻ địch hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã". "Làng nào, huyện nào, tỉnh nào cũng có du kích, thì nó thành một tấm lưới sắt, một thứ "thiên la địa võng" mà địch không tài nào thoát ra được".
Chiến tranh du kích ở khắp nơi có tác dụng khoét sâu mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán binh lực của quân xâm lược. Để tiến công quân sự, địch cần tập trung lực lượng, nhưng để giành đất, giữ dân, chúng buộc phải phân tán lực lượng trong những hệ thống đồn bốt dày đặc. Vì thế, càng mở rộng địa bàn chiếm đóng, lực lượng quân sự của đối phương càng bị dàn mỏng, khả năng tác chiến của địch cũng bị yếu đi. Đó lại là điều kiện thuận lợi để phát triển chiến tranh du kích. Phát triển chiến tranh du kích và xây dựng lực lượng dân quân du kích đảm bảo có lực lượng tại chỗ rộng khắp, có khả năng giải quyết yêu cầu tác chiến tập trung và phân tán, chủ động đánh địch trong mọi lúc mọi nơi, kết hợp nhiều hình thức và qui mô tác chiến, thường xuyên chiến đấu giam chân, tiêu hao và chia cắt địch. Bằng hình thức chiến tranh du kích, mọi người Việt Nam yêu nước đều có thể tham gia đánh giặc.
Phát động toàn dân kháng chiến
Trong lịch sử chiến tranh cách mạng Việt Nam, nhân dân Việt Nam không thể giành thắng lợi bằng một cuộc chiến tranh quy ước, không thể chỉ dựa vào lực lượng quân đội và dốc toàn lực vào một số trận sống mái với kẻ thù, mà phải tiến hành chiến tranh nhân dân, dựa vào lực lượng của toàn dân, có lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt. Chiến tranh du kích là cách đánh giặc của dân tộc bị áp bức chống đế quốc xâm lược, là phương thức để phát động toàn dân tham gia chiến tranh, làm cho địch dù ở đâu cũng không thể an toàn. Đó là “một hình thái chiến đấu không thể đánh bại”.
Chiến tranh du kích là một phương thức để phát động toàn dân, mà chủ yếu là nông dân tham gia kháng chiến. Trong 30 năm chiến tranh cách mạng (1945 - 1975), nông dân Việt Nam đã xây dựng buôn làng, thôn ấp chiến đấu, biến mỗi làng xã thành một pháo đài tiến công quân xâm lược, gắn nhà với nước, gắn giữ làng với giữ nước, phát huy cao độ truyền thống “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Ở khắp nơi trên đất nước Việt Nam, vùng giải phóng cũng như vùng tạm bị chiếm, nhân dân đã lợi dụng và cải tạo địa hình làng mạc, thôn ấp, dựng chướng ngại vật; “vừa đánh giặc vừa cày ruộng”, “vừa sản xuất vừa chiến đấu”, “vừa xây dựng vừa bảo vệ quê hương”. Để phát động chiến tranh du kích, Đảng và Hồ Chí Minh hết sức quan tâm công tác tổ chức và huấn luyện dân quân du kích từng làng. “Lấy dân quân du kích làng làm nền tảng; đồng thời phải kiện toàn các đội du kích thoát ly”.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng không phát động chiến tranh quy ước, mà phát động chiến tranh nhân dân, huy động toàn dân tham gia đánh giặc. Đi đôi với việc giác ngộ, tổ chức nhân dân, phải có phương thức tiến hành chiến tranh thích hợp, làm cho quân xâm lược đụng vào đâu cũng gặp sức kháng chiến của toàn dân Việt Nam cầm vũ khí trong tay chống lại chúng, thà chết không chịu làm nô lệ.
Chiến tranh du kích sinh sôi, nảy nở giữa vùng địch chiếm đóng, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân tham gia kháng chiến. Đó chính là đặc điểm lớn nhất của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Trung úy Rơ My (Jego Remy), một tù binh Pháp bị bắt ở Kẻ Sặt (Hải Dương) kể lại: “Ngay từ làng đầu tiên đi qua với quân đội Việt Nam, tôi thấy nhân dân tươi cười phấn khởi khi bộ đội đi qua. Tuy trận chiến vẫn tiếp diễn, nhưng trên đường đi, nhân dân ra khỏi nơi trú ẩn, nói chuyện, cổ vũ những người lính dẫn tôi đi… Buổi chiều trong một làng bị pháo binh bắn phá và ở làng bên còn bị cháy vì Napan, một nông dân già nói với tôi về cuộc kháng chiến, về chính sách khoan hồng. Ông làm tôi yên tâm về số phận của tôi. Ông nói về nhân dân Pháp, về Hăngri Máctanh. Ông chỉ cho tôi ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và kính cẩn nói về con người vĩ đại. Tôi sống 15 ngày ở tỉnh Hưng Yên cùng với nhân dân. Tôi đi qua các làng ban ngày, ban đêm. Hoạt động về đêm thật là tuyệt vời. Không cần giải thích, chỉ quan sát thôi, tôi đã tin rằng cuộc kháng chiến thực sự là của nhân dân, nó đáp ứng nguyện vọng của cả dân tộc Việt Nam” (Ky Thu: Refermer le passé douloureux, Édition Culturelles, Hanoi, 1995, p. 307).
PGS. TS. Vũ Quang Hiển