Đến năm 2012, khi tổ máy cuối cùng của Nhà máy Thủy điện Sơn La phát điện, hồ sẽ tích nước đến cao trình 215 mét, tạo ra mặt hồ lớn có diện tích rộng 224 km2. Lòng hồ tính từ đập dâng tại thị trấn Ít Ong, huyện Mường La (tỉnh Sơn La) ngược lên thượng nguồn trải dài hơn 200 km đến tận thị xã Mường Lay (tỉnh Điện Biên). Dung tích toàn bộ hồ chứa là 9,26 tỷ m3 nước, nhiều hơn hồ chứa thủy điện Hòa Bình trên 26 triệu m3 nước.
Trở về Mường Chiên
Chúng tôi tìm về Mường Chiên, huyện lỵ cũ của Quỳnh Nhai đầy nắng, gió. Nơi đây từng ấp ủ bao câu chuyện huyền thoại về tên núi, tên sông, địa danh các bản làng bên sông; về Ải Lậc Ngậc (chàng khổng lồ) có sức khỏe dời non, đắp đập ngăn sông Đà cho nước chảy ngược đổ về cánh đồng Mường Thanh (Điện Biên ngày nay). Nhưng có lẽ, đấy chỉ là mơ ước của những cư dân xưa vùng sông nước nơi thượng nguồn muốn chinh phục thiên nhiên, chinh phục dòng sông Đà hung dữ. Họ từng là chủ nhân của những con thuyền đuôi én ngược xuôi lên thác, xuống ghềnh trên dòng Đà Giang hùng vĩ. Vùng thung lũng sông Đà còn là cái nôi của những điệu xòe, điệu khắp và những người dân chất phác, cần cù lao động. Họ làm nên những bản trường ca bất hủ về chàng “Khún Lú – Nàng Ủa”, “Xống Chụ Xon Xao”, “Tản chụ xiết xương” (chuyện thơ Thái) từng làm rung động bao trái tim người đọc. Những bản tình ca đó đã trường tồn cùng thời gian, góp phần làm phong phú kho tàng văn hóa dân gian các dân tộc Việt Nam.
Một góc bến Pá Uôn, huyện Quỳnh Nhai (Sơn La). |
Ông La Văn Thêu ở bản Chẩu Quân, thị trấn Phiêng Lanh, huyện Quỳnh Nhai cho biết: Huyện lỵ Quỳnh Nhai xưa chỉ là một bản ven sông được đặt tên là Chẩu Quân. Sau này có thêm chữ Quốc ngữ được xác định là Châu Quỳnh Nhai. Còn Châu, phủ Quỳnh Nhai với nhiều tên gọi khác nhau có từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, lúc đó thuộc tỉnh Lai Châu cũ. Huyện lỵ Quỳnh Nhai đã hình thành, tồn tại trên 1 thế kỷ đến khi di dời huyện lỵ đến Phiêng Lanh vào tháng 7/2009 để xây dựng thị trấn mới, vì dòng điện ngày mai của Tổ quốc.
Theo chị Điêu Thị Loan, cán bộ Phòng Văn hóa –Tuyên truyền huyện Quỳnh Nhai, hôm nay cả đoàn còn đứng được trên mỏm đồi Pom Pô (đồi tháp truyền thanh - truyền hình của huyện cũ) nhưng khi hồ sông Đà tích nước cho 6 tổ máy thì quả đồi sẽ ngập sâu trong nước. Nhiều chỗ hồ sâu vài trăm thước, mặt hồ có nơi rộng đến chục cây số chạy tít tắp vào tận khe núi Pá Láu Thẳm Sưa (ngọn núi hang hổ), Hua Nghi (đầu nguồn suối Nậm Nghi). Vùng lòng hồ có nhiệm vụ chính là ngăn lũ, tích nước phục vụ cho công trình thủy điện Sơn La, cung cấp lượng điện khổng lồ, bình quân hằng năm 9,429 tỉ kW phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đoạn sông Đà xưa thuộc tỉnh Sơn La nay không còn ghềnh thác hung dữ nữa. Trước thời điểm tích nước hồ, Viện Khảo cổ học Việt Nam phối hợp với Bào tàng tỉnh Sơn La đã hoàn thành khai quật, xử lý, di dời một số di tích, trong đó có 31 di tích khảo cổ ở vùng lòng hồ Thủy điện Sơn La. Hiện vật đa phần là công cụ chế tác, gọt đẽo của thời kỳ tiền sử đồ đá cũ, đá mới, thời đồng thau. Một số di sản văn hóa vật thể đã được di dời khỏi vùng hồ ngập như bia Cà Nàng được xây dựng từ thế kỷ XVIII tại điểm phân định địa giới giữa 3 huyện Quỳnh Nhai (tỉnh Sơn La), Tủa Chùa (tỉnh Điện Biên) và Sìn Hồ (tỉnh Lai Châu) với phần văn tự được thể hiện bằng chữ Hán Nôm khắc sâu vào mặt bia, khổ chữ 4x6 cm. Tấm bia đá xanh cao 1,2m, rộng 0,64m. Di chỉ bãi đá cổ Pá Màng thuộc địa phận bản Pá Màng, xã Liệp Tè, huyện Thuận Châu (Sơn La) cũng đã được di chuyển một phần. Theo các nhà khảo cổ học thì có 3 di chỉ khảo cổ học khác nhau được phát hiện. Bên cạnh 2 di chỉ khảo cổ học thuộc văn hóa thời đại đá mới và thời đại kim khí còn có bãi đá cổ có diện tích khoảng 1.000m2, trong đó có 18 hòn đá có những hình khắc do con người tạo ra. Tuy nhiên, theo Bảo tàng Sơn La, các nhà khảo cổ học cũng chưa thể tìm hiểu, nghiên cứu kỹ vùng bãi đá cổ này trước khi nó bị ngập nước. Hay như Khu dinh thự Châu phủ Quỳnh Nhai được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX trên khu đất rộng gần 5.000m2, có tường thành bao quanh cao 2,5m, tường được xây bằng đá cuội sông kết hợp với cát, vôi, mật. Khu dinh thự đã được xếp vào Di tích Lịch sử của địa phương. Dưới lòng sông Đà, vùng ngập hồ còn ẩn chứa nhiều điều, thực sự là kho tàng văn hóa vùng Tây Bắc nhưng chúng ta chưa có điều kiện để nghiên cứu, khám phá và phát huy.
Nghề mới trên hồ
Chị Điêu Thị Nghị trước đây ở bản Nghe Tỏng, xã Mường Chiên nay chuyển ra huyện mới Phiêng Lanh, cũng thôi luôn cái nghề nông gắn bó lâu đời để chuyển sang nghề mới - dịch vụ vận chuyển khách trên hồ, kiêm luôn cả hướng dẫn viên. Chị Nghị cho biết: Do chuyển về nơi ở mới thuộc diện tái định cư đô thị nên không được cấp đất sản xuất. Vốn liếng được đền bù, hai gia đình mua chung 1 chiếc xuồng máy hết 80 triệu đồng. Khách đi thuyền chủ yếu là bà con tái định cư về bản cũ, quê cũ làm ruộng nương, chăn thả gia súc. Từ bến Pá Uôn ngược hồ lên mạn thượng đến quê cũ Quỳnh Nhai khoảng 24 km, đi hết hai tiếng rưỡi đồng hồ.
Giữa trưa, thuyền tiếp tục chạy dọc theo ven hồ thuộc địa phận xã Cà Nàng. Chúng tôi chỉ kịp nhận ra những khu rừng tái sinh đang ngả màu xanh sẫm. Tuy nước hồ chưa dâng đến nhưng sắp tới, cả vùng này sẽ là một biển hồ mênh mông. Ghé sát mạn thuyền vào bờ, gặp 2 bố con ông Đinh Văn Thinh ở bản Cóc, xã Tường Hạ, huyện Phù Yên (Sơn La) lên đây bắt tôm. Ông Thinh bảo: “Trước đây tôi làm nghề đánh bắt thủy sản trên lòng hồ Hòa Bình nhưng nay dân nhiều nơi đánh bắt bằng xung điện, bằng thuốc nổ nên thủy sản trên hồ cạn kiệt nhiều rồi. Nay có hồ mới, hai bố con tôi lên đây, mỗi ngày cũng bắt được trên dưới chục cân tôm, bán với giá 25.000 - 30.000 đồng/kg, so với lao động ở quê thì đây cũng là nguồn thu đáng kể”.
Người lái thuyền đưa chúng tôi ngược vào con suối Nậm Chiên cũ (nay thành một nhánh hồ). Khi con thuyền cập bến, chúng tôi hăm hở men theo con đường bùn đất mà nước hồ vừa rút xuống. Gặp anh Điêu Chính Thảnh, Bí thư Chi bộ bản Quyền, xã Mường Chiên, anh vui vẻ cho biết: Bản có 62 hộ, với 276 nhân khẩu, các hộ được cung cấp điện, nước sinh hoạt ổn định nhưng đường thì chưa xong nên đi lại khó khăn. Hiện trong bản có 20 hộ đang tập làm nghề đánh bắt tôm, cá để sinh sống. Về lâu dài, bà con bản Quyền mong muốn được Nhà nước giúp cho vay vốn để sản xuất, ổn định cuộc sống, tận dụng vùng đất bán ngập để chăn nuôi, trồng trọt cây ngắn ngày. Tập huấn dạy nghề mới cho bà con phù hợp với hoàn cảnh mới.
Xuôi về, vùng ngập lòng hồ theo suối Muội vào 3 xã Chiềng Bằng, Chiềng Sại, Liệp Muội (huyện Quỳnh Nhai) chạy dài bên hồ trên 10 km có hàng chục làng, bản tái định cư bám vào các triền dốc. Trên 400 ha ruộng, nương trước đây của xã nay đã biến thành mặt hồ được bà con dân tộc Thái tận dụng đánh bắt thủy sản, thử nghiệm nuôi cá lồng. Ông Lưu Bình Khiêm, Chủ tịch UBND xã Chiềng Bằng cho biết: Với hướng phát triển của xã là trên bờ trồng cây cao su, dưới hồ nuôi cá lồng. Năm 2010, xã đầu tư thí điểm 20 lồng bè để nuôi cá trên hồ, bước đầu cá sinh trưởng và phát triển tốt, ước tính sau một năm thu lãi khoảng 8 triệu đồng/lồng. Dự kiến cuối năm 2011, khi mặt hồ ổn định sẽ đầu tư tiếp 20 lồng cá tại 8 bản tái định cư để nuôi thí điểm. Theo đó, xã thành lập Hội Nuôi trồng – đánh bắt và khai thác thủy sản, giúp bà con vùng tái định cư ven hồ sớm ổn định đời sống.
Ông Lò Văn Sâm ở điểm tái định cư bản Mển, xã Hua Trai (huyện Mường La), là một trong số người học làm vó bè đầu tiên ở xã này. Ông Sâm tâm sự: “Trước mình chỉ biết làm nương, từ ngày nước dâng lên thấy có nhiều tôm cá nên chuyển hẳn nghề mới. Làm 1 vó bè 20m2 hết khoảng 14 triệu đồng. Mua thêm 1 chiếc thuyền máy nữa hết 15 triệu đồng. Giống tôm hồ này ham ánh sáng đêm lắm, mỗi đêm kéo vó 2 lần được khoảng 80 kg, ít thì cũng được 50 kg tôm, với giá bình quân 20.000 đồng/kg, trừ chi phí thu được 500.000 đồng/ngày.
Ông Quàng Văn Dương, Bí thư Đảng ủy xã Hua Trai, huyện Mường La thì lo rằng: Nghề vó bè mới chỉ là tự phát, dân sở tại do chưa có đất sản xuất nên tạm thời làm thuê cho các cư dân vùng khác từ hồ Thác Bà, hồ thủy điện Hòa Bình lên hồ sông Đà, họ có kinh nghiệm đánh bắt tôm bằng mồi nhân tạo, khai thác thủy sản. Hiện xã đang tính nghề thủy sản bền vững chứ con cá, con tôm hồ phú cho cũng chỉ có hạn, dân đánh bắt bằng vó bè hủy diệt như thế này thì chẳng mấy chốc mà cạn kiệt.
Tại Hội nghị giao ban Ban Chỉ đạo Nhà nước dự án Thủy điện Sơn La – Lai Châu mới đây, ông Hồ Xuân Hùng - Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng: Ngay bây giờ chúng ta phải có phương án bảo vệ môi trường sinh thái vùng lòng hồ Thủy điện Sơn La. Nước hồ hiện nay rất bẩn bởi xác cây cối, thảm thực vật ngâm thối dưới hồ. Một tác nhân nữa làm hồ bẩn là do trong quá trình mở đường di dân, san ủi xây dựng các khu, điểm tái định cư ven hồ, làm đường giao thông tránh ngập, mưa lũ đã cuốn trôi lượng lớn đất đá san ủi ra trút xuống hồ, gây lở đất ven hồ, làm bồi lắng phù sa. Tôm, cá ở hồ chỉ khai thác từ 2 - 3 năm là cạn kiệt, nên có phương án thả cá giống bổ sung cho lượng thủy sản trong hồ. Cần xây dựng phương án chuyển đổi ngành nghề cho người dân tái định cư phi nông nghiệp và tiếp tục triển khai phương án sản xuất phù hợp với điều kiện của từng khu, điểm tái định cư.
Điêu Chính Tới