EU nới lỏng quy định an toàn thực phẩm đối với mỳ ăn liền Việt Nam

Kể từ ngày 27/6, các mặt hàng mỳ ăn liền xuất khẩu từ Việt Nam vào thị trường Liên minh châu Âu (EU) sẽ không bị bắt buộc phải đi kèm giấy kiểm định an toàn thực phẩm do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp.

Theo phóng viên TTXVN tại Brussels, ngày 7/6, EU đã đăng công báo sửa đổi Quy định 2019/1973 về các biện pháp khẩn cấp kiểm soát thực phẩm xuất khẩu vào EU. Theo đó, EU đã  chính thức đưa các loại mỳ ăn liền của Việt Nam từ phụ lục II (kiểm soát bằng chứng thư an toàn thực phẩm và kiểm soát tại cửa khẩu) sang phụ lục I với tần suất kiểm tra tại biên giới là 20%.

Cũng tại Quy định này, ớt chuông từ Việt Nam vẫn nằm trong phụ lục I với tần suất kiểm tra 50% tại cửa khẩu. Đậu bắp và thanh long vẫn nằm trong phụ lục II với tần suất kiểm tra tương ứng là 50% và 20%. Điều này có nghĩa là các mặt hàng nông nghiệp không có thay đổi so với quy định của 6 tháng trước.

EU bắt đầu áp dụng quy định kiểm soát khẩn cấp đối với các loại bún, miến mỳ của Việt Nam từ ngày 01/01/2022. Chỉ 6 tháng sau đó, EU đưa bún miến, các sản phẩm từ gạo ra khỏi danh mục quản lý an toàn thực phẩm và hiện tại, sau 18 tháng kể từ thời điểm trên, mỳ ăn liền đã được chuyển từ mặt hàng thuộc diện xem xét phụ lục II (kiểm soát theo chứng thư và tại cửa khẩu) sang phụ lục I (kiểm soát tại cửa khẩu). Quyết định này là một sự ghi nhận đối với Bộ Công Thương nước ta trong công tác kiểm soát an toàn thực phẩm cũng như tích cực hỗ trợ giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp.

Theo Tham tán Thương mại Việt Nam tại Bỉ và EU, Trần Ngọc Quân, việc EU vẫn duy trì kiểm soát tại cửa khẩu với tần suất 20% đòi hỏi Việt Nam luôn phải duy trì tốt công tác kiểm soát an toàn thực phẩm đối với mỳ ăn liền. Nếu trong 6 tháng cuối năm 2023, mỳ ăn liền của Việt Nam xuất khẩu vào EU có nhiều vụ vi phạm quy định an toàn thực phẩm thì lộ trình tiếp theo của EU sẽ là tăng giám sát lên mức 50% tại cửa khẩu và sau đó là đưa quay lại phụ lục II.

Hàn Quốc là một trong những quốc gia nổi tiếng sản xuất mỳ ăn liền, tuy nhiên, trong nhiều năm qua, “xứ sở kim chi” vẫn chưa thành công thuyết phục EU bỏ giám sát chất lượng và hiện nay vẫn nằm ở phụ lục I với tần suất kiểm tra 20% như Việt Nam.

Hương Giang (TTXVN)

Dành cho bạn

Mở không gian phát triển, tạo lực đẩy tăng trưởng mới

Mở không gian phát triển, tạo lực đẩy tăng trưởng mới

Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên. Để hiện thực hóa mục tiêu, cần khơi thông các nguồn lực, biến chủ trương thành kết quả cụ thể cùng chuyển động thực chất từ mỗi địa phương.

Hạt gạo phát thải thấp - Bài cuối: Bảo đảm lợi ích người trồng lúa

Hạt gạo phát thải thấp - Bài cuối: Bảo đảm lợi ích người trồng lúa

Nông dân Đồng bằng sông Cửu Long đang thay đổi cách canh tác để thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, để người dân duy trì phương thức sản xuất mới, chính sách hỗ trợ cần gắn yêu cầu kỹ thuật với bảo đảm thu nhập, cải thiện hạ tầng và chia sẻ rủi ro.

Hạt gạo phát thải thấp - Bài 2: Gỡ nút thắt công nghệ và vốn

Hạt gạo phát thải thấp - Bài 2: Gỡ nút thắt công nghệ và vốn

Để mở rộng sản xuất lúa phát thải thấp, Đồng bằng sông Cửu Long cần giải quyết đồng thời yêu cầu kỹ thuật và nguồn vốn đầu tư. Bên cạnh áp dụng công nghệ giúp nông dân giảm chi phí, kết quả giảm phát thải cũng cần được cơ quan chức năng hỗ trợ kiểm chứng để doanh nghiệp tiếp cận tài chính xanh và thị trường carbon.

Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI: Ưu đãi đầu tư phải đi đôi với hiệu quả dự án

Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI: Ưu đãi đầu tư phải đi đôi với hiệu quả dự án

Sáng 2/11, tiếp tục Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, các đại biểu đề nghị gắn ưu đãi với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư, xây dựng tiêu chí đo lường hiệu quả dự án, tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.

Hạt gạo phát thải thấp - Bài 1: Từ sản lượng đến giá trị

Hạt gạo phát thải thấp - Bài 1: Từ sản lượng đến giá trị

Đồng bằng sông Cửu Long đang chuyển đổi sản xuất lúa theo hướng nâng chất lượng và giảm phát thải. Để duy trì và mở rộng cách làm mới, ngành nông nghiệp cần tháo gỡ nút thắt về công nghệ, vốn và thị trường carbon, đồng thời bảo đảm lợi ích lâu dài cho người trồng lúa.