Kinh tế Việt Nam qua góc nhìn quốc tế: Từ lợi thế ổn định vĩ mô đến khát vọng bứt phá

Năm 2026 được xem là điểm khởi đầu cho một chu kỳ phát triển mới của kinh tế Việt Nam, khi nền tảng phục hồi giai đoạn 2024-2025 đã tạo dựng thế và lực khác biệt so với trước đây. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định, cách nhìn của các tổ chức quốc tế về Việt Nam không chỉ dừng ở những con số tăng trưởng, mà ngày càng nhấn mạnh tới chất lượng, cấu trúc và khả năng thích ứng của nền kinh tế.
Chú thích ảnh
Dây chuyền sản xuất của Công ty Honda Việt Nam, Khu công nghiệp Đồng Văn II. Ảnh minh họa: Nguyễn Chinh/TTXVN

Sau hai năm phục hồi mạnh mẽ, Việt Nam bước vào Kế hoạch 5 năm 2026-2030 với nền tảng vĩ mô ổn định hơn, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn cơ bản đảm bảo và niềm tin thị trường dần củng cố. Theo bà Mariam J. Sherman, Giám đốc Ngân hàng Thế giới (WB) phụ trách Việt Nam, Campuchia và Lào, lợi thế của Việt Nam nằm ở vị trí chiến lược trong các tuyến thương mại châu Á, nền tảng công nghiệp ngày càng hoàn thiện, mạng lưới hiệp định thương mại tự do rộng khắp và lực lượng lao động có sức cạnh tranh. Những yếu tố này giúp Việt Nam tiếp tục được xếp vào nhóm nền kinh tế năng động nhất ASEAN trong các báo cáo triển vọng năm 2026.

Các định chế tài chính quốc tế nhìn nhận tương đối tích cực về quỹ đạo tăng trưởng của Việt Nam. Ngân hàng UOB, Citi và Standard Chartered dự báo tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2026 có thể đạt 7,2-8%, dựa trên nền tăng trưởng cao của năm 2025 và đà mở rộng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao, bán dẫn và năng lượng tái tạo. Khi nhiều dự án quy mô lớn bước vào giai đoạn vận hành thương mại, sản lượng công nghiệp được kỳ vọng có thêm động lực mới. Song song đó, tiêu dùng nội địa và du lịch quốc tế phục hồi mạnh tiếp tục đóng vai trò lực đẩy, nhất là khi các chính sách tài khóa và tiền tệ hỗ trợ từ năm trước đã phát huy hiệu ứng lan tỏa tới khu vực doanh nghiệp.

Ở góc độ thận trọng hơn, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đưa ra dự báo trong khoảng 6-6,5%. Tuy nhiên, ngay cả trong kịch bản này, Việt Nam vẫn duy trì mức tăng trưởng cao hơn đáng kể so với trung bình toàn cầu. Sự khác biệt về con số phản ánh cách tiếp cận thận trọng trước bối cảnh bên ngoài, nhưng không làm thay đổi đánh giá chung rằng nền kinh tế Việt Nam đã nâng cao đáng kể khả năng chống chịu trước các cú sốc.

Điểm đáng chú ý trong các báo cáo năm nay là sự thay đổi trong cách nhìn về động lực tăng trưởng. Nếu trước đây xuất khẩu và FDI được xem là hai trụ cột gần như tuyệt đối, thì nay nhiều tổ chức, trong đó có Citi Research, nhấn mạnh vai trò ngày càng rõ của thị trường nội địa. Khi GDP bình quân đầu người dự kiến vượt 5.000 USD trong năm 2026, Việt Nam tiến gần hơn tới ngưỡng thu nhập trung bình cao, đồng thời hình thành tầng lớp trung lưu có sức mua lớn hơn. Một thị trường nội địa mở rộng không chỉ tạo thêm dư địa cho doanh nghiệp trong nước, mà còn khiến Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư hướng tới chiến lược “sản xuất gắn với thị trường”.

Dòng vốn FDI cũng đang chuyển dịch theo hướng chất lượng hơn. Thay vì chủ yếu dựa vào lợi thế chi phí lao động thấp, nhiều dự án mới tập trung vào công nghệ cao, sản xuất thông minh và năng lượng tái tạo. Việt Nam dần được nhìn nhận không chỉ là “công xưởng” xuất khẩu, mà là mắt xích quan trọng trong hệ sinh thái sản xuất khu vực. Xu hướng này mở ra cơ hội hình thành các cụm liên kết ngành, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Tuy nhiên, các tổ chức quốc tế cũng nhấn mạnh rằng để duy trì đà tăng trưởng cao và hướng tới bứt phá, Việt Nam cần tập trung vào cải cách cơ cấu. OECD và IMF cho rằng dư địa tăng trưởng dựa trên mở rộng vốn và lao động đang thu hẹp, trong khi năng suất và đổi mới sáng tạo sẽ là yếu tố quyết định trong trung và dài hạn. Cải thiện môi trường kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính, phát triển thị trường vốn minh bạch và xây dựng cơ chế thử nghiệm cho các mô hình kinh tế mới được xem là những bước đi then chốt để kích hoạt làn sóng đầu tư và sáng tạo mới.

Một khuyến nghị quan trọng khác là tăng cường liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước. Khi các tập đoàn đa quốc gia mở rộng sản xuất tại Việt Nam, cơ hội lan tỏa công nghệ và nâng cao chuẩn quản trị là rất lớn. Vấn đề đặt ra là doanh nghiệp nội địa cần được hỗ trợ nâng cao năng lực, từ tiêu chuẩn sản xuất, quản trị rủi ro đến tiếp cận tài chính, để có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Sự gắn kết này không chỉ giúp gia tăng giá trị nội địa, mà còn củng cố nền tảng tăng trưởng bền vững.

Song hành với đó là yêu cầu chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Các tiêu chuẩn môi trường ngày càng cao tại các thị trường lớn buộc doanh nghiệp Việt Nam phải đầu tư mạnh hơn vào công nghệ tiết kiệm năng lượng và phát triển năng lượng tái tạo. Đầu tư vào hạ tầng xanh, logistics hiện đại và kinh tế số được nhiều tổ chức quốc tế xem là chiến lược dài hạn để duy trì lợi thế cạnh tranh, đồng thời phù hợp với định hướng phát triển dựa trên đổi mới sáng tạo và tăng trưởng xanh mà Việt Nam đang theo đuổi.

Về ổn định vĩ mô, đánh giá chung cho thấy Việt Nam vẫn có dư địa chính sách để duy trì cân bằng. Áp lực tỷ giá và lãi suất được nhận diện nhưng nằm trong khả năng kiểm soát nếu chính sách tiền tệ và tài khóa tiếp tục phối hợp linh hoạt, đồng thời bảo đảm tín dụng hướng vào khu vực sản xuất – kinh doanh. Việc giữ vững kỷ luật tài khóa và củng cố niềm tin thị trường sẽ là nền tảng quan trọng để duy trì môi trường đầu tư ổn định trong bối cảnh bên ngoài còn nhiều biến động.

Nhìn tổng thể, năm 2026 của Việt Nam không chỉ là câu chuyện về một mức tăng trưởng cao hơn mặt bằng thế giới, mà là bước khởi động cho một giai đoạn phát triển mới dựa trên chất lượng và chiều sâu. Đánh giá tích cực của các tổ chức quốc tế không đơn thuần nằm ở những con số dự báo, mà ở niềm tin rằng Việt Nam đang hội tụ đủ điều kiện để chuyển hóa lợi thế ổn định vĩ mô thành động lực cải cách và đổi mới.

Diệu Linh (TTXVN)

Dành cho bạn

Bảo vệ nguồn nước trước áp lực biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn

Bảo vệ nguồn nước trước áp lực biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn

Thành phố Cần Thơ nằm ở trung tâm vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có hệ thống sông, kênh, rạch dày đặc và nguồn nước mặt đóng vai trò quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt, công nghiệp và giao thông thủy. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, phát triển sản xuất, biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và ô nhiễm nguồn nước đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao về quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên nước.

Nghị quyết 10-NQ/TW: Những địa chỉ mới của dòng vốn FDI

Nghị quyết 10-NQ/TW: Những địa chỉ mới của dòng vốn FDI

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào TP Hồ Chí Minh đang có sự chuyển dịch rõ hơn về lĩnh vực và chất lượng. Bên cạnh các dự án sản xuất, nhiều nhà đầu tư đang quan tâm đến logistics, cảng biển, hạ tầng số, công nghệ cao và các dịch vụ có giá trị gia tăng cao, phù hợp với định hướng phát triển mới của thành phố.

Phố Wall nối dài đà tăng, bất ổn chính trị phủ bóng thị trường châu Âu

Phố Wall nối dài đà tăng, bất ổn chính trị phủ bóng thị trường châu Âu

Khép lại phiên giao dịch 5/10, thị trường chứng khoán hai bờ Đại Tây Dương ghi nhận diễn biến trái chiều. Trong khi chỉ số Nasdaq tại Mỹ thiết lập kỷ lục mới nhờ lực kéo từ nhóm cổ phiếu công nghệ, thị trường châu Âu chịu áp lực bán tháo do lo ngại về gánh nặng nợ công của Pháp và các bất ổn chính trị trong khu vực.

Giá dầu giảm gần 2 USD do nguồn cung từ Trung Đông gia tăng

Giá dầu giảm gần 2 USD do nguồn cung từ Trung Đông gia tăng

Giá dầu thế giới giảm khoảng 2 USD trong phiên giao dịch 5/10, sau khi lượng dầu xuất khẩu từ Trung Đông tăng lên và Nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới (G7) cam kết tăng nguồn cung. Tuy nhiên, đà giảm bị hạn chế do những lo ngại về gián đoạn nguồn cung vẫn tiếp diễn liên quan đến cuộc xung đột giữa Mỹ và Iran.

Cảnh báo dự trữ dầu toàn cầu suy giảm vì xung đột

Cảnh báo dự trữ dầu toàn cầu suy giảm vì xung đột

Ngày 5/10, Tổng Giám đốc tập đoàn dầu khí Saudi Aramco của Saudi Arabia), ông Amin Nasser cảnh báo lượng dầu dự trữ có thể huy động trên toàn cầu đang ở mức thấp đáng lo ngại do ảnh hưởng cuộc xung đột giữa Mỹ - Israel và Iran.