Kết luận số 91-KL/TW: Số hóa tư liệu để lan tỏa giá trị di sản

Kết luận số 91-KL/TW của Ban Bí thư về tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước giai đoạn 2026 - 2030 yêu cầu “quán triệt sâu sắc yêu cầu tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử quan trọng phải hướng về Nhân dân, lấy giá trị lịch sử, chính trị, văn hoá, giáo dục làm trọng tâm”.

Cùng với đổi mới nội dung, phương thức tổ chức và tuyên truyền, Kết luận số 91-KL/TW của Ban Bí thư về tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước giai đoạn 2026 - 2030 đặt ra yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, số hóa và khai thác tư liệu, dữ liệu, di sản nhằm nâng cao sức lan tỏa các giá trị lịch sử, văn hóa trong đời sống xã hội.

Đưa di sản đến gần hơn với cộng đồng

PGS, TS Vương Thị Hường, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) nhận định “hướng về Nhân dân” không chỉ là đưa các hoạt động kỷ niệm đến gần người dân mà sâu xa hơn là làm cho di sản thực sự trở thành tài sản văn hóa mà nhân dân có thể tiếp cận, hiểu và tự hào. Ảnh: Diệu Thúy/TTXVN
PGS, TS Vương Thị Hường, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) nhận định “hướng về Nhân dân” không chỉ là đưa các hoạt động kỷ niệm đến gần người dân mà sâu xa hơn là làm cho di sản thực sự trở thành tài sản văn hóa mà nhân dân có thể tiếp cận, hiểu và tự hào. Ảnh: Diệu Thúy/TTXVN

Đặc biệt quan tâm yêu cầu được nêu trong Kết luận số 91-KL/TW: “quán triệt sâu sắc yêu cầu tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử quan trọng phải hướng về Nhân dân, lấy giá trị lịch sử, chính trị, văn hoá, giáo dục làm trọng tâm”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vương Thị Hường, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) cho rằng, đây cũng là định hướng có ý nghĩa trực tiếp đối với công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản Hán Nôm.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vương Thị Hường, “hướng về Nhân dân” không chỉ là đưa các hoạt động kỷ niệm đến gần người dân mà sâu xa hơn là làm cho di sản thực sự trở thành tài sản văn hóa mà nhân dân có thể tiếp cận, hiểu và tự hào. Với kho tư liệu Hán Nôm, mỗi bản sắc phong, thác bản bia ký, gia phả, địa chí hay văn bản cổ đều chứa đựng những thông tin xác thực về lịch sử, văn hóa và ký ức cộng đồng.

Vì vậy, công tác nghiên cứu, bảo tồn cần gắn chặt hơn với phát huy giá trị thông qua số hóa, phiên âm, dịch nghĩa, chú giải, xây dựng cơ sở dữ liệu và giới thiệu tư liệu bằng những hình thức phù hợp với công chúng. Việc ứng dụng khoa học, công nghệ phải đồng thời bảo đảm tính chính xác và chuẩn mực khoa học.

Để tư liệu Hán Nôm thực sự trở thành “dữ liệu sống”, cần chuyển từ tư duy số hóa chủ yếu để lưu trữ sang số hóa để khai thác, kết nối và phục vụ xã hội. Trong giai đoạn 2026 - 2030, một trong những nhiệm vụ cần được ưu tiên là xây dựng nền tảng dữ liệu Hán Nôm số thống nhất, từng bước số hóa có hệ thống các nhóm tư liệu quan trọng; chuẩn hóa dữ liệu về văn bản, niên đại, địa danh, nhân vật, sự kiện, chủ đề và nguồn gốc, tạo khả năng liên thông, tra cứu và khai thác lâu dài.

Cùng với đó là ứng dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ số trong quá trình xử lý di sản, từ nhận dạng chữ Hán Nôm, phiên âm, tra cứu, đối sánh văn bản đến xây dựng các công cụ tìm kiếm thông minh. Dữ liệu Hán Nôm cũng cần được đưa đến với thế hệ trẻ bằng những phương thức phù hợp như xây dựng chuyên đề số về lịch sử, nhân vật, làng xã, phong tục; phát triển bản đồ di sản, triển lãm số, học liệu trực tuyến và các hình thức tương tác trực quan.

Từ thực tiễn của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vương Thị Hường cho rằng, thời gian tới có thể lựa chọn các bộ dữ liệu và chuyên đề Hán Nôm tiêu biểu về lịch sử, nhân vật, danh nhân, làng xã, phong tục, sự kiện lớn để phối hợp với cơ quan báo chí xây dựng chuyên trang, phim tài liệu, phóng sự; với các nhà xuất bản thực hiện sách, sách ảnh, ấn phẩm khoa học - phổ thông; với bảo tàng tổ chức triển lãm, trưng bày số. Viện đảm nhiệm việc cung cấp nguồn tư liệu, bảo đảm giá trị khoa học, các cơ quan phối hợp phát huy thế mạnh về truyền thông, xuất bản và trưng bày; qua đó giá trị Hán Nôm được lan tỏa rộng hơn, thiết thực hơn, đồng thời hạn chế đầu tư dàn trải, trùng lặp.

Phát huy giá trị lịch sử

TS Lê Văn Phong, Viện Sử học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đánh giá Kết luận số 91-KL/TW cho thấy bước chuyển từ “kỷ niệm lịch sử” sang “phát huy giá trị lịch sử”. Ảnh: Diệu Thúy/TTXVN
TS Lê Văn Phong, Viện Sử học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đánh giá Kết luận số 91-KL/TW cho thấy bước chuyển từ “kỷ niệm lịch sử” sang “phát huy giá trị lịch sử”. Ảnh: Diệu Thúy/TTXVN

Tiến sĩ Lê Văn Phong, Viện Sử học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) cho rằng Kết luận số 91-KL/TW cho thấy bước chuyển từ “kỷ niệm lịch sử” sang “phát huy giá trị lịch sử”.

Kết luận số 91-KL/TW yêu cầu đổi mới nội dung, phương thức truyền tải, kết hợp các loại hình báo chí, xuất bản, văn học, nghệ thuật, điện ảnh, bảo tàng, di tích, nhà trường với phương thức truyền thông hiện đại; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, số hóa và khai thác tư liệu, dữ liệu, di sản.

Từ những yêu cầu này, Tiến sĩ Lê Văn Phong cho rằng có thể nhận diện một số vấn đề cần tập trung giải quyết để nâng cao hiệu quả giáo dục lịch sử, truyền thống trong môi trường số. Trước hết là việc hình thành nguồn dữ liệu lịch sử đủ độ tin cậy và có khả năng khai thác rộng rãi.

Hiện nhiều nguồn tư liệu còn phân tán, mức độ số hóa, chuẩn hóa và liên thông chưa đồng đều, hạn chế khả năng sử dụng cho nghiên cứu, giáo dục và truyền thông. Trong khi đó, môi trường số đòi hỏi dữ liệu không chỉ được lưu giữ mà còn phải có khả năng tra cứu, kết nối, tương tác và phục vụ nhiều nhóm đối tượng khác nhau.

Cùng với hoàn thiện dữ liệu là yêu cầu đổi mới cách truyền tải lịch sử theo hướng tăng các hình thức tạo trải nghiệm như bảo tàng số, triển lãm trực tuyến, bản đồ lịch sử tương tác, cơ sở dữ liệu mở và sản phẩm đa phương tiện; nội dung có thể ngắn gọn nhưng phải bảo đảm chiều sâu, tính chính xác và khả năng khơi gợi nhu cầu tìm hiểu.

Theo Tiến sĩ Lê Văn Phong, giai đoạn 2026 - 2030 tập trung nhiều ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử quan trọng, vì vậy việc tổ chức cần căn cứ vào ý nghĩa, tính chất, quy mô của từng sự kiện và điều kiện thực tế, không nhất thiết sự kiện nào cũng triển khai với hình thức lớn. Nguồn lực cần tập trung cho những nhiệm vụ trọng tâm, thật sự cần thiết và có ý nghĩa; đồng thời xác định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp và người đứng đầu từ khâu xây dựng kế hoạch đến tổ chức thực hiện.

Những hoạt động phát sinh ngoài kế hoạch chỉ nên triển khai khi thật sự cần thiết, đúng thẩm quyền và bảo đảm hiệu quả. Sau mỗi sự kiện, việc đánh giá cũng cần đi vào thực chất, thay vì chỉ tổng kết số lượng hoạt động hoặc số người tham dự. Hiệu quả chính trị, tư tưởng, văn hóa, giáo dục, sức lan tỏa xã hội, sự tham gia, hưởng ứng của nhân dân và hiệu quả sử dụng nguồn lực cần trở thành những căn cứ để nhìn nhận kết quả tổ chức, đồng thời tạo cơ sở tiếp tục khai thác giá trị của sự kiện trong giáo dục và đời sống xã hội.

Thanh Hương- Diệu Thuý/TTXVN

Dành cho bạn

Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế -Bài cuối: Cần gắn với liêm chính và trách nhiệm

Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế -Bài cuối: Cần gắn với liêm chính và trách nhiệm

Đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh góp phần bổ sung nguồn lực cho phát triển kinh tế. Để phát huy nguồn lực này, tổ chức Đảng cần khuyến khích làm giàu chính đáng, đồng thời kiểm soát xung đột lợi ích. Mỗi đảng viên phải giữ liêm chính, nêu gương và thực hiện đầy đủ trách nhiệm.

Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế- Bài 2: Đưa chủ trương thành động lực phát triển

Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế- Bài 2: Đưa chủ trương thành động lực phát triển

Từ khu dân cư đến khu công nghiệp, việc khuyến khích đảng viên làm kinh tế cần được cụ thể hóa bằng hướng dẫn, thông tin và kết nối hỗ trợ. Khi tổ chức Đảng nắm rõ nhu cầu, cơ quan chuyên môn giải quyết đúng trách nhiệm, người có ý tưởng kinh doanh có cơ hội để bắt đầu.

Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế- Bài 1: Gỡ vướng để đảng viên làm giàu chính đáng

Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế- Bài 1: Gỡ vướng để đảng viên làm giàu chính đáng

Muốn làm kinh tế, đảng viên cần vượt qua áp lực thị trường và hiểu rõ quyền, trách nhiệm của mình. Quy định số 224-QĐ/TW của Đảng đang tạo thêm cơ sở phát huy nguồn lực ấy. Để chủ trương này trở thành động lực, đảng cần đồng hành giải đáp vướng mắc, hỗ trợ đúng việc và minh bạch.

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI: Quy định về tố tụng điện tử, bảo vệ quyền con người

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI: Quy định về tố tụng điện tử, bảo vệ quyền con người

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, chiều 27/10, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi). Các đại biểu Quốc hội đánh giá dự thảo Bộ luật đã tiếp thu và đã thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp, chuyển đổi số, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng.