Indonesia kết luận cuối cùng về điều tra tự vệ sợi bông nhập khẩu

Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) cho biết: Ngày 24/5/2025, Ủy ban Tự vệ của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã nhận được Thông báo của Chính phủ Indonesia về Kết luận cuối cùng vụ việc điều tra tự vệ đối với sợi làm từ bông nhập khẩu.

Cụ thể, Ủy ban Tự vệ của Indonesia (KPPI) đã kết luận có sự gia tăng đáng kể lượng nhập khẩu cả về tuyệt đối và tương đối sản phẩm sợi bông vào Indonesia là nguyên nhân gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nội địa.

Trước đó, KPPI đã khởi xướng điều tra áp dụng biện pháp tự vệ vào ngày 27/10/2023. Sản phẩm bị đề xuất áp dụng biện pháp tự vệ sợi làm từ bông (cotton yarn) được phân loại theo mã HS 5204.11.10, 5204.19.00, 5204.20.00, 5205.11.00, 5205.12.00, 5205.21.00, 5205.22.00, 5205.24.00, 5205.26.00, 5205.32.00, 5205.41.00, 5205.42.00, 5205.43.00, 5205.47.00, 5205.48.00, 5206.11.00, 5206.12.00, 5206.14.00, 5206.21.00, 5206.23.00, 5206.24.00, 5206.25.00, 5206.31.00, 5206.32.00, 5206.33.00, 5206.42.00 và 5206.45.00. Giai đoạn điều tra là từ năm 2019 đến 2022 và sau đó trong quá trình điều tra được cập nhật lại từ năm 2021 đến 2024. 

Về mặt tuyệt đối, trong giai đoạn từ 2021 - 2024, lượng nhập khẩu đã tăng 7,3%. Mặc dù có sự sụt giảm từ năm 2022 đến 2023 tuy nhiên nhập khẩu đã phục hồi và tăng trong năm 2024. Cùng đó, về mặt tương đối có sự gia tăng đột biến về lượng hàng nhập khẩu so với sản lượng sản xuất trong nước trong giai đoạn điều tra, từ 100 điểm chỉ số vào năm 2021 tăng lên 122 điểm vào năm 2022, tiếp tục tăng lên 176 điểm vào năm 2023 và tiếp tục tăng lên 195 điểm vào năm 2024. Trong giai đoạn 2021 - 2024, lượng nhập khẩu so với sản lượng quốc gia đã tăng 26,70%.

Theo Cục Phòng vệ thương mại, Việt Nam chiếm thị phần nhập khẩu lớn nhất vào Indonesia trong năm 2024, chiếm 42,94% tổng lượng nhập khẩu. Các quốc gia khác có thị phần nhập khẩu vượt quá 3% trong năm 2024 bao gồm: Trung Quốc (26,88%), Ấn Độ (11,85%), Malaysia (4,15%), Thổ Nhĩ Kỳ (3,43%) và các quốc gia thành viên khác với tổng thị phần là 2,89%. Với lượng nhập khẩu lớn nhất, Việt Nam không đủ điều kiện được loại trừ khỏi biện pháp tự vệ.

KPPI kết luận rằng sự gia tăng nhập khẩu trên là kết quả của những diễn tiến không lường trước được như sự đứt gãy chuỗi cung ứng do dịch COVID-19, sự dịch chuyển nhà máy sản xuất sợi bông từ Trung Quốc sang các nước khác trong khu vực do cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, chính sách hạn chế xuất khẩu bông thô của Ấn Độ dẫn tới tăng lượng sản xuất và xuất khẩu sợi bông từ nước này, chính sách cấm nhập khẩu sợi bông từ khu vực Tân Cương của Trung Quốc vào Hoa Kỳ dẫn tới lượng nhập khẩu từ Trung Quốc vào Indonesia tăng đột biến.  

Theo Kết luận của KPPI, sự gia tăng hàng nhập khẩu đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nội địa Indonesia, thể hiện ở các yếu tố như sụt giảm thị phần, sản lượng sản xuất, bán hàng nội địa, giảm công suất và việc làm, tăng thua lỗ tài chính… Ngoài ra, KPPI cũng xác định rằng thiệt hại nêu trên trực tiếp gây ra bởi sự gia tăng hàng nhập khẩu mà không phải các nguyên nhân khác.

Trên cơ sở đó, KPPI đề xuất Chính phủ Indonesia áp dụng biện pháp tự vệ dưới hình thức thuế tuyệt đối đối với sợi bông nhập khẩu trong 3 giai đoạn. Cụ thể, giai đoạn 1 thuế 13.419 rupiah/kg; giai đoạn 2: Thuế 12.614 rupiah/kg; giai đoạn 3: Thuế 11.809 rupiah/kg.

Ngoài ra, KPPI đề xuất thời gian áp dụng biện pháp là sau khi công bố lệnh áp thuế của Bộ Tài chính Indonesia lên công báo. Bên cạnh đó, KPPI đề nghị các bên quan tâm gửi yêu cầu tham vấn bằng văn bản trong vòng 7 ngày kể từ ngày KPPI thông báo kết luận cuối cùng. Tất cả các yêu cầu bằng văn bản phải được gửi bằng công văn bản cứng và dưới phương thức điện tử, cần chỉ ra tên, địa chỉ, email, điện thoại của bên yêu cầu tham vấn. Đáng lưu ý, tham vấn dự kiến được tổ chức trực tuyến.

Do đó, Cục Phòng vệ thương mại khuyến nghị các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu bị ảnh hưởng bởi biện pháp tự vệ nghiên cứu kỹ Kết luận cuối cùng của Indonesia, có bình luận và yêu cầu tham vấn gửi KPPI và tham gia tham vấn trong trường hợp cần thiết. Ngoài ra, doanh nghiệp cần đa dạng hóa sản phẩm và thị trường xuất khẩu để giảm thiểu tác động từ biện pháp tự vệ.

Uyên Hương (TTXVN)

Dành cho bạn

Tỉnh Phú Thọ thúc đẩy xúc tiến đầu tư, thương mại tại CH Séc

Tỉnh Phú Thọ thúc đẩy xúc tiến đầu tư, thương mại tại CH Séc

Ngày 27/10, tại Trung tâm Thương mại Sapa, thủ đô Praha, tỉnh Phú Thọ tổ chức hội nghị xúc tiến đầu tư, thương mại với các doanh nghiệp CH Séc nhằm giới thiệu môi trường đầu tư, tìm kiếm đối tác và thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và năng lượng xanh.

Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế -Bài cuối: Cần gắn với liêm chính và trách nhiệm

Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế -Bài cuối: Cần gắn với liêm chính và trách nhiệm

Đảng viên tham gia đầu tư, kinh doanh góp phần bổ sung nguồn lực cho phát triển kinh tế. Để phát huy nguồn lực này, tổ chức Đảng cần khuyến khích làm giàu chính đáng, đồng thời kiểm soát xung đột lợi ích. Mỗi đảng viên phải giữ liêm chính, nêu gương và thực hiện đầy đủ trách nhiệm.

Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế- Bài 2: Đưa chủ trương thành động lực phát triển

Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế- Bài 2: Đưa chủ trương thành động lực phát triển

Từ khu dân cư đến khu công nghiệp, việc khuyến khích đảng viên làm kinh tế cần được cụ thể hóa bằng hướng dẫn, thông tin và kết nối hỗ trợ. Khi tổ chức Đảng nắm rõ nhu cầu, cơ quan chuyên môn giải quyết đúng trách nhiệm, người có ý tưởng kinh doanh có cơ hội để bắt đầu.

Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế- Bài 1: Gỡ vướng để đảng viên làm giàu chính đáng

Khơi thông nguồn lực đảng viên làm kinh tế- Bài 1: Gỡ vướng để đảng viên làm giàu chính đáng

Muốn làm kinh tế, đảng viên cần vượt qua áp lực thị trường và hiểu rõ quyền, trách nhiệm của mình. Quy định số 224-QĐ/TW của Đảng đang tạo thêm cơ sở phát huy nguồn lực ấy. Để chủ trương này trở thành động lực, đảng cần đồng hành giải đáp vướng mắc, hỗ trợ đúng việc và minh bạch.

Minh bạch dữ liệu để nâng giá trị nông sản Việt

Minh bạch dữ liệu để nâng giá trị nông sản Việt

Nông sản muốn giữ vững niềm tin của người mua cần có thông tin đáng tin cậy về nguồn gốc và quá trình sản xuất. Để đáp ứng yêu cầu này, các bên trong chuỗi cần phối hợp thu thập, kiểm chứng dữ liệu và chia sẻ chi phí với người nông dân.