Hành trình tìm khán giả trẻ cho cải lương

Từ những chương trình từng quy tụ hàng nghìn khán giả đến những thử nghiệm đưa sân khấu vào học đường, phục vụ du lịch, kết nối các nhóm nghệ sĩ xã hội hóa, hành trình 50 năm của Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang cho thấy cải lương không thiếu những nỗ lực tìm đường đến công chúng.

Tuy nhiên, trong bối cảnh thói quen thưởng thức nghệ thuật thay đổi, đặc biệt ở người trẻ, xã hội hóa không còn chỉ là câu chuyện huy động kinh phí mà đặt ra yêu cầu rộng hơn: kết nối nguồn lực, đổi mới cách làm, tạo sản phẩm phù hợp và xây dựng một thế hệ khán giả mới cho sân khấu.

Từ những thử nghiệm xã hội hóa

Một tiết mục tại Lễ bế mạc và trao giải Cuộc thi Tài năng diễn viên Cải lương toàn quốc – 2026. Ảnh: Hữu Duyên/TTXVN
Một tiết mục tại Lễ bế mạc và trao giải Cuộc thi Tài năng diễn viên Cải lương toàn quốc – 2026. Ảnh: Hữu Duyên/TTXVN

Nhìn lại hành trình phát triển của Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang, xã hội hóa đã được đặt ra từ khá sớm như một hướng mở rộng hoạt động, huy động thêm nguồn lực và tạo không gian để nghệ sĩ thử nghiệm những cách làm mới. Theo Nghệ sĩ Nhân dân Tấn Giao, giá trị của quá trình này không chỉ nằm ở nguồn kinh phí huy động được, mà quan trọng hơn là tư duy chủ động của những người quản lý trong việc kết nối nghệ sĩ, các nhóm sáng tạo với công chúng.

Từ những năm 1990, Nhà hát đã bắt đầu thử nghiệm nhiều hình thức hợp tác. Một trong những mô hình tiên phong là Câu lạc bộ sân khấu Ba thế hệ do Nghệ sĩ Ưu tú Hoa Hạ cùng các nghệ sĩ Bảo Anh, Linh Trung gây dựng. Đến các giai đoạn tiếp theo, những chương trình như “Sân khấu Vàng”, “Những dấu ấn không phai”, “Hội ngộ Tài năng”, “Thắp sáng niềm tin” tiếp tục mở rộng sự tham gia của lực lượng nghệ sĩ bên ngoài nhà hát, góp phần tạo thêm sản phẩm và cơ hội biểu diễn.

Nhớ lại những ngày đầu, đạo diễn, Nghệ sĩ Ưu tú Hoa Hạ cho biết cuối năm 1995, bà cùng nghệ sĩ Bảo Anh, Linh Trung góp tiền khôi phục hoạt động tại rạp Hưng Đạo và thành lập Câu lạc bộ sân khấu Ba thế hệ. Sau đó, những chương trình quy mô lớn như “Kim Vân Kiều”, “Chiếc Áo Thiên Nga” trở thành dấu ấn đáng nhớ. Có đêm diễn tại Nhà thi đấu Quân khu 7 thu hút hơn 4.000 người; hai chương trình thực hiện 5 suất với tổng cộng hơn 20.000 lượt khán giả. Hình ảnh người xem xếp hàng mua vé, theo bà, gợi lại một thời sân khấu cải lương có sức hút mạnh mẽ với công chúng.

Thực tế này cho thấy khi có sự cộng hưởng giữa tài năng nghệ sĩ, nguồn vốn và một sản phẩm đủ sức thuyết phục, mô hình hợp tác ngoài ngân sách có thể tạo hiệu quả cả về nghệ thuật lẫn khả năng tiếp cận người xem. Tuy nhiên, Tiến sĩ Mai Mỹ Duyên (Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng để một mô hình cải lương vận hành lâu dài cần hội đủ ba điều kiện: Nhân lực với đội ngũ nghệ sĩ có nghề; vật lực gồm cơ sở, trang thiết bị, phương tiện, cảnh trí; tài lực bảo đảm kinh phí tổ chức. Bên cạnh đó còn một yếu tố không thể quy đổi thành tiền, đó là tâm huyết, niềm say mê và sự dấn thân của người làm nghề.

Thực tiễn cũng cho thấy không phải thử nghiệm nào cũng có thể duy trì. Nghệ sĩ Nhân dân Thoại Miêu nhớ lại Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang từng đưa cải lương vào học đường và xây dựng chương trình phục vụ khách quốc tế. Tuy nhiên, một số hoạt động chỉ thực hiện được trong thời gian ngắn do hạn chế kinh phí, chương trình dành cho du khách cũng phải dừng khi nguồn khách từ đối tác không còn ổn định. Những trường hợp này cho thấy huy động nguồn lực mới chỉ là điểm khởi đầu, để mô hình tồn tại cần hình thành chuỗi liên kết ổn định từ đơn vị nghệ thuật, nghệ sĩ, nhà đầu tư, đối tác đến thị trường và người xem.

Từ những kinh nghiệm đó, Thạc sĩ, đạo diễn, nhà báo Thanh Hiệp đề xuất xây dựng mô hình “sân khấu mở”, trong đó nhà hát đóng vai trò hạt nhân kết nối thay vì chỉ dựa vào lực lượng nghệ sĩ cơ hữu. Đây sẽ là nơi hội tụ tài năng, khai thác các nguồn lực xã hội và tạo điều kiện cho nhiều thành phần cùng tham gia sáng tạo, sản xuất, quảng bá tác phẩm. Theo Nhà báo Thanh Hiệp, những kinh nghiệm từ “Hội ngộ Tài năng”, “Sân khấu Vàng” cần được tiếp tục đúc kết để hình thành phương thức hoạt động phù hợp hơn, đồng thời mở rộng sự kết nối của cải lương với du lịch, kinh tế ban đêm và công nghiệp văn hóa.

Khán giả trẻ không quay lưng với cải lương

Các nghệ sĩ trẻ tìm hiểu những dấu tích lịch sử, tiếp nhận những câu chuyện và bài học từ thế hệ đi trước để tiếp tục gìn giữ, phát huy di sản cải lương. Ảnh: Giang Phương/TTXVN
Các nghệ sĩ trẻ tìm hiểu những dấu tích lịch sử, tiếp nhận những câu chuyện và bài học từ thế hệ đi trước để tiếp tục gìn giữ, phát huy di sản cải lương. Ảnh: Giang Phương/TTXVN

Huy động nguồn lực mới chỉ giải quyết một phần yêu cầu để sân khấu duy trì hoạt động; sức sống lâu dài của cải lương vẫn phụ thuộc vào khả năng giữ chân người xem và hình thành lớp công chúng kế cận. Điều này càng trở nên cấp thiết khi thói quen thưởng thức văn hóa thay đổi nhanh, phim ảnh, mạng xã hội và các nền tảng số mang đến ngày càng nhiều lựa chọn giải trí.

Theo Tiến sĩ Bùi Thị Hoa, Phân viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch miền Nam, sự thu hẹp khán giả của sân khấu cải lương xuất phát từ cả những tác động bên ngoài lẫn hạn chế nội tại. Kết quả khảo sát 200 người cho thấy, 82,7% ý kiến đề cập sự cạnh tranh của các loại hình giải trí mới, 72,8% cho rằng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của giới trẻ đã thay đổi. Trong khi đó, sân khấu còn đối diện tình trạng thiếu người viết kịch bản, thiếu đạo diễn được đào tạo bài bản, đội ngũ nhạc công giỏi ngày càng thưa vắng và một bộ phận nghệ sĩ chưa dành sự đầu tư cần thiết cho nghề.

Từ những con số này, Tiến sĩ Bùi Thị Hoa cho rằng không thể đơn giản lý giải sự vắng khán giả bằng nhận định công chúng không còn yêu nghệ thuật truyền thống. Vấn đề còn nằm ở khả năng thích ứng của cải lương, từ cách tổ chức hoạt động, xây dựng sản phẩm đến phương thức tiếp cận người xem trong nhịp sống đô thị đang thay đổi nhanh chóng.

Trong một nghiên cứu khác, Tiến sĩ Trần Thanh Toàn, Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, người trẻ, thế hệ trẻ vẫn ghi nhận những giá trị cốt lõi của cải lương nhưng mong muốn được tiếp cận loại hình nghệ thuật này bằng những phương thức gần gũi, linh hoạt hơn với đời sống đương đại. Điều họ mong muốn là những con đường tiếp cận gần gũi, linh hoạt hơn: Từ truyền thông số, hoạt động trong trường học đến workshop, giao lưu và những chương trình cho phép trực tiếp tham gia, trải nghiệm. Như vậy, vấn đề không hẳn nằm ở việc phải làm khác đi bản chất của cải lương, mà là tìm cách chuyển tải những giá trị vốn có bằng ngôn ngữ và phương thức phù hợp hơn với thế hệ hôm nay.

Từ góc độ người làm nghề, Nghệ sĩ Nhân dân Trịnh Kim Chi, Chủ tịch Hội Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng hành trình xây dựng công chúng mới cần được thực hiện đồng thời với việc chuẩn bị lực lượng kế cận. Cùng với đào tạo tác giả, đạo diễn, diễn viên trẻ, cải lương cần hiện diện nhiều hơn trong trường học, khu công nghiệp, các chương trình giao lưu, giới thiệu trích đoạn cũng như trên mạng xã hội. Đề tài sân khấu cũng cần mở rộng về đời sống đương đại, phản ánh những câu chuyện, vấn đề xã hội mà người trẻ quan tâm, qua đó thay đổi quan niệm cải lương chỉ gắn với lịch sử hay tuồng cổ.

Nhà báo, đạo diễn Thanh Hiệp nhìn câu chuyện từ sự thay đổi mạnh mẽ của công nghệ. Theo ông, nếu không chủ động nghiên cứu và tận dụng những phương tiện mới để kết nối với thế hệ trẻ, sân khấu sẽ khó mở rộng công chúng. Song đổi mới công nghệ không đồng nghĩa làm mờ đi đặc trưng của nghệ thuật biểu diễn trực tiếp. Trong một môi trường mà sản phẩm giải trí có thể được tạo ra và lan truyền ngày càng nhanh, ông nhấn mạnh hát thật, diễn thật và cảm xúc thật vẫn là giá trị riêng có của sân khấu, cũng là điều cải lương cần phát huy để tạo sức hút đối với người xem hôm nay.

Từng bước tạo nguồn công chúng

Từ hành trình 50 năm, bài toán đặt ra với Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang là không chỉ là bảo tồn một di sản sân khấu, mà còn tạo sức sống mới cho di sản. Ảnh: Hữu Duyên/TTXVN
Từ hành trình 50 năm, bài toán đặt ra với Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang là không chỉ là bảo tồn một di sản sân khấu, mà còn tạo sức sống mới cho di sản. Ảnh: Hữu Duyên/TTXVN

Tìm đường đến với người trẻ không chỉ là câu chuyện đổi mới tác phẩm hay đưa cải lương ra khỏi không gian sân khấu truyền thống. Trong bối cảnh phần lớn hoạt động tiếp nhận thông tin, giải trí của thế hệ trẻ diễn ra trên các nền tảng số, cách nghệ thuật hiện diện và tương tác với công chúng cũng trở thành một phần quan trọng của bài toán phát triển khán giả.

Theo Nghệ sĩ Ưu tú Tâm Tâm, qua phân tích 245 nội dung được đăng tải trên Facebook, YouTube, TikTok và website của Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang trong khoảng tháng 5-7/2026, hoạt động truyền thông đã được triển khai trên nhiều nền tảng nhưng phần lớn vẫn theo hướng cung cấp thông tin một chiều. Những hình thức có khả năng tạo tương tác và thu hút người trẻ như video ngắn, kể chuyện, nội dung hậu trường, câu chuyện nghề hay chân dung nghệ sĩ chưa được khai thác tương xứng.

Sự hạn chế này thể hiện khác nhau ở từng kênh. Facebook tập trung nhiều vào lịch diễn, poster, thông tin bán vé và hoạt động của nhà hát; YouTube có lợi thế lưu giữ, giới thiệu các trích đoạn, chương trình biểu diễn và tư liệu sân khấu nhưng tần suất cập nhật chưa đều, một số nội dung còn dài. Trong khi đó, TikTok có khả năng tiếp cận mạnh với người trẻ nhưng chưa hình thành chiến lược nội dung rõ nét. Nghệ sĩ Ưu tú Tâm Tâm cho rằng đang có khoảng cách giữa giá trị nghệ thuật vốn giàu tính tự sự, cảm xúc, chiều sâu văn hóa của cải lương với cách tải những giá trị ấy trên môi trường số.

Từ đó, phát triển công chúng cần được nhìn rộng hơn mục tiêu quảng bá chương trình hay bán vé cho từng suất diễn. Tiến sĩ Võ Thị Yến, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành cho rằng, quá trình kết nối cần tạo thành một hành trình để người xem từ biết đến, quan tâm, tìm hiểu, trải nghiệm, quay lại, tham gia và dần gắn bó với nghệ thuật. Không gian số vì thế không thay thế trải nghiệm trực tiếp tại sân khấu mà đóng vai trò mở thêm những điểm tiếp xúc, đưa công chúng đến gần hơn với cải lương và duy trì mối liên hệ với họ sau mỗi chương trình.

Quan niệm ấy cũng mở rộng cách tiếp cận xã hội hóa. Thay vì chủ yếu tìm kiếm nguồn kinh phí bên ngoài để dựng vở, Nhà hát có thể tăng cường liên kết với trường học, cơ sở đào tạo, đơn vị du lịch, các nhóm sáng tạo, truyền thông và những đối tác có khả năng đưa sản phẩm nghệ thuật đến nhiều không gian khác nhau. Công chúng cũng không còn chỉ ở vị trí người mua vé, mà có thể tham gia trải nghiệm, tương tác, chia sẻ và góp phần lan tỏa giá trị cải lương. Theo Tiến sĩ Võ Thị Yến, phát triển công chúng cần hướng đến xây dựng mối quan hệ bền vững giữa Nhà hát, nghệ sĩ, di sản và các nhóm người xem, thay vì chỉ gia tăng số lượng khán giả trong từng thời điểm.

Điều đó đòi hỏi quá trình bảo tồn phải song hành với đổi mới. Giữ bản sắc của cải lương Nam Bộ không có nghĩa giữ nguyên cách thể hiện, mà cần tìm kiếm ngôn ngữ dàn dựng, đề tài và phương thức tiếp cận phù hợp hơn với đời sống đương đại; đồng thời chú trọng đào tạo lực lượng kế cận, ứng dụng công nghệ và mở rộng không gian hoạt động. Mục tiêu cuối cùng không phải làm cải lương khác đi để chạy theo thị hiếu, mà tạo thêm những con đường để giá trị truyền thống có thể đến được với công chúng hôm nay.

Sau dấu mốc 50 năm, câu hỏi đặt ra với Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang vì thế không chỉ là làm thế nào để có thêm nguồn lực hay duy trì những đêm diễn, mà còn là làm sao hình thành lớp khán giả sẽ tiếp tục đồng hành với cải lương trong tương lai. Hiệu quả của xã hội hóa cũng cần được nhìn từ khả năng chuyển nguồn lực huy động thành những tác phẩm có chất lượng, cơ hội sáng tạo cho nghệ sĩ và những phương thức kết nối công chúng bền vững.

Hành trình tìm khán giả trẻ, từ góc nhìn đó, không thể chỉ chờ người trẻ tìm đến rạp. Cải lương cần chủ động hiện diện trong những không gian mà họ đang học tập, làm việc, giao tiếp và giải trí; tạo cơ hội để họ biết đến, hiểu, trải nghiệm và tương tác. Khi khoảng cách được rút ngắn, người trẻ không chỉ có thêm lý do trở lại sân khấu mà còn có thể trở thành một phần của cộng đồng tiếp nối và lan tỏa sức sống của cải lương.

Hữu Duyên/TTXVN

Dành cho bạn

Hoàn thiện cơ sở khoa học phục dựng Điện Kính Thiên

Hoàn thiện cơ sở khoa học phục dựng Điện Kính Thiên

Chiều 22/9, tại Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội), Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam, Văn phòng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) tại Hà Nội, UBND thành phố Hà Nội và UBND tỉnh Ninh Bình phối hợp tổ chức Họp báo công bố thông tin về Hội nghị Đối thoại châu Á - Thái Bình Dương về Di sản và Tính xác thực, đồng thời chính thức ra mắt Bộ nhận diện kỷ niệm 50 năm Việt Nam gia nhập UNESCO (1976 – 2026).