Hà Nội tiếp tục dẫn đầu
Sáng 4/10, tại Hà Nội, trong khuôn khổ lễ hưởng ứng Ngày đổi mới sáng tạo quốc gia năm 2026, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố kết quả Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) năm 2026.
Theo kết quả PII 2026, Hà Nội đạt 63,80 điểm, xếp hạng 1. Đứng thứ hai là Thành phố Hồ Chí Minh, tiếp đến là Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Huế, Đà Nẵng, Thái Nguyên, Tây Ninh và Hưng Yên.
Trong tốp 10 địa phương dẫn đầu PII 2026 có 7 thành phố trực thuộc Trung ương. Xét theo vùng miền, tốp 10 có 6 địa phương ở khu vực miền Bắc, 2 địa phương ở khu vực miền Trung và 2 địa phương ở khu vực miền Nam. Cao Bằng đạt 21,22 điểm, xếp hạng 34.
Chỉ số PII được xây dựng nhằm cung cấp bức tranh tổng thể về hiện trạng mô hình phát triển kinh tế xã hội dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của từng địa phương. Qua đó, chỉ số cung cấp căn cứ về điểm mạnh, điểm yếu, các yếu tố tiềm năng và điều kiện cần thiết để địa phương xác định, lựa chọn các định hướng, giải pháp phù hợp.
Công cụ đánh giá năng lực đổi mới sáng tạo
PII được xây dựng bám sát khung và phương pháp đo lường đổi mới sáng tạo của Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII). Đổi mới sáng tạo được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ bao gồm những đổi mới dựa trên hoạt động nghiên cứu và phát triển chuyên nghiệp mà còn bao gồm những đổi mới nhỏ trong mọi mặt đời sống, việc tái sử dụng công nghệ, tri thức đã có theo cách mới.
Năm 2026, PII gồm 52 chỉ số thành phần, được chia thành 7 trụ cột. Trong đó, 5 trụ cột đầu vào phản ánh những yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, gồm: Thể chế; Vốn con người và Nghiên cứu và Phát triển; Cơ sở hạ tầng; Trình độ phát triển của thị trường; Trình độ phát triển của doanh nghiệp.
Hai trụ cột đầu ra phản ánh kết quả tác động của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào phát triển kinh tế xã hội, gồm: Sản phẩm tri thức, sáng tạo và công nghệ; Tác động.
Dữ liệu phục vụ xây dựng PII 2026 được thu thập từ hai nguồn chính. Trong đó, 40/52 chỉ số được lấy từ số liệu thống kê, quản lý nhà nước được công bố chính thức bởi các bộ, cơ quan quản lý Nhà nước và tổ chức ở Trung ương; 12/52 chỉ số do các địa phương thu thập, cung cấp kèm tài liệu minh chứng.
Bộ Khoa học và Công nghệ đã xây dựng tài liệu hướng dẫn, tổ chức tập huấn cho các địa phương về thu thập, cung cấp dữ liệu và tài liệu minh chứng liên quan.
Trong quá trình xử lý, phân tích dữ liệu và tính toán PII của 34 địa phương năm 2026, Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện theo các chuẩn mực quốc tế được công nhận rộng rãi và sử dụng phần mềm phân tích tổng hợp chuyên dụng. Thiết kế tổng thể của chỉ số, độ tin cậy của dữ liệu và kỹ thuật tính toán được thực hiện theo quy trình, phương pháp đã được chuyên gia quốc tế độc lập công nhận từ năm 2023.
Cơ sở để thúc đẩy đổi mới sáng tạo
Chỉ số PII được triển khai ở Việt Nam từ năm 2022, khi Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) và các cơ quan liên quan thử nghiệm tại một số địa phương. Từ năm 2023, Chính phủ giao Bộ Khoa học và Công nghệ chính thức triển khai PII trên phạm vi toàn quốc.
Ở cấp quốc gia, từ năm 2017, Chính phủ sử dụng Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) do WIPO công bố hằng năm như một công cụ để nhận diện điểm mạnh, điểm yếu về đổi mới sáng tạo của Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp, chính sách phù hợp.
Theo dữ liệu được cung cấp, năm 2026, thứ hạng GII của Việt Nam được cải thiện lên vị trí 43 trong số 139 nền kinh tế, tăng 1 bậc so với năm trước. Tính từ năm 2013, thứ hạng GII của Việt Nam tăng 33 bậc, từ vị trí 76 lên vị trí 43.
Việc triển khai PII ở cấp địa phương được kỳ vọng góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng, thực thi các chính sách thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo công cụ đánh giá, so sánh năng lực và kết quả hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo giữa các địa phương.
Kết quả PII cũng là thông tin tham khảo đối với nhà đầu tư, doanh nghiệp về môi trường đầu tư tại địa phương; cung cấp cơ sở dữ liệu cho hoạt động nghiên cứu và có ý nghĩa đối với các tổ chức quốc tế, nhà tài trợ trong việc xem xét các hoạt động liên quan tại Việt Nam.