Gỡ vướng cơ chế, khơi thông nguồn lực phát triển hạ tầng LNG

Việc phát triển hạ tầng khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) theo mục tiêu Quy hoạch Điện VIII điều chỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu năng lượng cho tăng trưởng kinh tế cao, chuyển đổi số và phát triển các ngành công nghệ cao, đang đối mặt với nhiều thách thức cần sớm có các giải pháp tháo gỡ.

Nhiều thách thức trong phát triển hạ tầng LNG

Hai tổ máy Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I cơ bản hoàn thành, đã phát điện lên lưới điện quốc gia với sản lượng 620 triệu kWh.Ảnh: Nguyên Linh/TTXVN
Hai tổ máy Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch I cơ bản hoàn thành, đã phát điện lên lưới điện quốc gia với sản lượng 620 triệu kWh.Ảnh: Nguyên Linh/TTXVN

Tại hội thảo “Phát triển hạ tầng LNG tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách” do Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương phối hợp với Đại sứ quán Hoa Kỳ và Tập đoàn Excelerate Energy tại Việt Nam tổ chức sáng 5/11 tại Hà Nội, ông Nguyễn Văn Phương, Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho biết, Nghị quyết số 70/NQ-TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đặt ra yêu cầu đa dạng hóa nguồn cung, phát triển đồng bộ hạ tầng và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Đối với khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG), Nghị quyết xác định phát triển hạ tầng nhập khẩu, dự trữ và tiêu thụ, hình thành các trung tâm năng lượng tại các vùng, miền.

Thời gian qua, Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong hình thành chuỗi cung ứng LNG nhưng so với yêu cầu của Quy hoạch Điện VIII điều chỉnh, đây mới chỉ là bước khởi đầu, nhiều dự án còn chậm triển khai. Thực tế là việc phát triển hạ tầng LNG đang đặt ra ba thách thức lớn. Một là xác định quy mô phát triển trong bối cảnh thị trường biến động và yêu cầu chiến lược năng lượng. Hai là bảo đảm sự đồng bộ của toàn chuỗi. Ba là huy động vốn và phân bổ rủi ro khi các dự án LNG có quy mô vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài, đòi hỏi cơ chế, chính sách ổn định và có khả năng dự báo.

Tại hội thảo, bà Jennifer Wicks, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam nhận định, Việt Nam đã có những bước đi đáng ghi nhận thông qua Quy hoạch Điện VIII điều chỉnh và các quy định đang được triển khai. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu của Quy hoạch Điện VIII điều chỉnh, Việt Nam cần giải quyết một số thách thức kéo dài đã được các nhà đầu tư, bên cho vay vốn và các nhà phát triển dự án thẳng thắn chỉ ra.

Theo Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, việc phát triển các dự án năng lượng, nhất là điện khí LNG đòi hỏi các quy định có tính ổn định và khả năng dự báo; cơ chế định giá minh bạch; hợp đồng có khả năng huy động vốn và quy trình cấp phép phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Nếu thiếu những điều kiện này, dòng vốn đầu tư sẽ không thể được huy động với quy mô và tốc độ cần thiết.

Với công nghệ hàng đầu thế giới, kinh nghiệm vận hành sâu rộng và cam kết lâu dài đối với thành công của Việt Nam, các doanh nghiệp Hoa Kỳ mong muốn đầu tư và cung cấp năng lượng cho Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh có nhiều cơ hội đầu tư cạnh tranh trên toàn cầu, các khoản đầu tư và giao dịch sẽ hướng tới những thị trường có năng lực và mức độ tin cậy cao. Điều này phụ thuộc vào môi trường pháp lý cho phép các dự án đạt được khả năng huy động vốn, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam nhấn mạnh.

Khởi công Dự án Nhà máy Nhiệt điện LNG Quảng Trạch II với tổng mức đầu tư hơn 40.000 tỷ đồng. Ảnh: Nguyên Linh/TTXVN
Khởi công Dự án Nhà máy Nhiệt điện LNG Quảng Trạch II với tổng mức đầu tư hơn 40.000 tỷ đồng. Ảnh: Nguyên Linh/TTXVN

Từ góc độ doanh nghiệp đang đầu tư vào hạ tầng LNG tại Việt Nam, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Khí Việt Nam (PV GAS) Huỳnh Quang Hải chỉ rõ mô hình đầu tư còn phân tán chính là một điểm nghẽn vì không tận dụng được hạ tầng dùng chung, thiếu tính kết nối giữa các khu vực, thiếu tính linh hoạt trong xử lý các phát sinh trong vận hành, nguy cơ phải đốt bỏ khí BOG, rủi ro đầy bồn, thiếu hụt nguồn cung...

Điểm nghẽn thứ hai là nguồn cung LNG, trong đó các hợp đồng mua LNG chủ yếu là hợp đồng chuyến (Spot), chưa có các hợp đồng thu xếp nguồn cung LNG dài hạn, ổn định nên chịu rủi ro về giá cũng như gián đoạn nguồn cung đặc biệt trong trường hợp có các biến động về địa chính trị. Đặc biệt, mặc dù đã có quy định về hợp đồng bao tiêu sản lượng tối thiểu (hợp đồng Qc) cho nhà máy điện LNG, nhưng chưa có quy định đảm bảo huy động Qc nên không có cơ sở để triển khai hợp đồng cung cấp LNG dài hạn. Trong khi đó, chi phí LNG theo hợp đồng ngắn hạn biến động mạnh theo giá quốc tế, vận tải, tỷ giá dẫn đến rủi ro tăng giá khí LNG đầu vào nhà máy điện LNG, ông Huỳnh Quang Hải cho biết.

Chia sẻ về việc phát triển hạ tầng LNG tại Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Việt Sơn cho biết, Việt Nam đã từng bước hình thành hệ thống hạ tầng khí, từ thăm dò, xử lý, vận chuyển đến phân phối. Kho cảng LNG Thị Vải - Cái Mép đã đi vào hoạt động, mở ra khả năng bổ sung nguồn khí nhập khẩu phục vụ phát điện và sản xuất công nghiệp. Tuy nhiên, thị trường LNG Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn đầu phát triển. Nguồn khí từ nhiều mỏ hiện hữu trong nước có xu hướng suy giảm, trong khi các nguồn khí mới cần thời gian và nguồn lực lớn để triển khai.

Thực tế cho thấy, nhu cầu LNG thực tế phụ thuộc nhiều vào tiến độ triển khai các dự án hạ tầng LNG, nhu cầu của các hộ tiêu thụ, khả năng huy động của hệ thống điện và sức cạnh tranh về giá của điện khí. Trong khi đó, các dự án LNG đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài. Hiệu quả đầu tư phụ thuộc vào sự đồng bộ về tiến độ giữa kho cảng, đường ống và các hộ tiêu thụ, nhất là các nhà máy điện.

Hài hoà lợi ích-chia sẻ rủi ro

Để phát triển hạ tầng LNG tại Việt Nam đáp ứng yêu cầu năng lượng đi trước một bước, ông Nguyễn Văn Phương cho biết yêu cầu xuyên suốt là chuyển từ cách tiếp cận từng dự án riêng lẻ sang phát triển chuỗi hạ tầng LNG đồng bộ, hiệu quả. Theo đó, cần lựa chọn mô hình thích hợp; xây dựng khung thể chế minh bạch, ổn định, bảo đảm nguyên tắc hài hòa lợi ích, chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người sử dụng cho toàn chuỗi LNG. Trong đó, cần xem xét tổng thể phương thức lựa chọn nhà đầu tư, cơ chế tiếp cận và chia sẻ hạ tầng, hợp đồng cung ứng khí, hợp đồng mua bán điện và cơ chế giá.

Ngoài ra, cần gắn cam kết mua khí với sản lượng điện được huy động, tạo cơ sở thu xếp vốn và hạn chế phát sinh chi phí cho hệ thống. “Chính sách phải thu hút được vốn dài hạn, công nghệ tiên tiến và sự tham gia của các nhà đầu tư quốc tế, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước tham gia. Rủi ro cần được phân bổ minh bạch, gắn với khả năng quản lý của từng bên; đồng thời kiểm soát tác động đến giá điện và các nghĩa vụ tài chính dài hạn. Cùng với đó, cần làm rõ cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp để tổ chức thực hiện thông suốt”, ông Nguyễn Văn Phương đề xuất.

Chỉ ra các lợi thế chiến lược mà Việt Nam có thể đạt được khi phát triển hạ tầng LNG hiện đại, bao gồm các cảng nhập khẩu LNG, kho nổi chứa và tái hóa khí LNG (FSRU), Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam cho rằng các cảng LNG và kho FSRU đều góp phần củng cố vị thế chiến lược của Việt Nam thông qua đa dạng hóa nguồn cung và tạo điều kiện triển khai các hợp đồng cung cấp dài hạn. Những yếu tố này sẽ giúp Việt Nam đáp ứng các mục tiêu tăng trưởng, đồng thời giảm thiểu những cú sốc về nguồn cung.

Cũng theo Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, với một quốc gia đang mở rộng năng lượng tái tạo nhưng vẫn phải bảo đảm độ tin cậy của hệ thống điện, điện LNG là một nguồn bổ trợ có giá trị. Vì vậy, để khai thác những lợi thế chiến lược này, Việt Nam cần bảo đảm khuôn khổ pháp lý và các quy định liên quan được hoàn thiện kịp thời. Các nhà đầu tư cần sự rõ ràng về cơ chế giá và điều độ điện, tính minh bạch trong cấp phép cũng như các hợp đồng tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu của các bên cho vay quốc tế. Bên cạnh đó, các nhà đầu tư cũng mong muốn có các thỏa thuận mua bán dài hạn để bảo đảm nguồn cung LNG với mức giá cạnh tranh cũng như cơ chế bao tiêu sản lượng điện LNG để đảm bảo dự án hạ tầng LNG có khả năng huy động vốn, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam nhấn mạnh.

Để phát triển hạ tầng LNG tại Việt Nam, Phó Tổng Giám đốc PV GAS Huỳnh Quang Hải đề xuất đầu tư kho cảng LNG trung tâm cùng hệ thống đường ống trục kết nối giữa các kho và đến các nhà máy điện, hộ tiêu thụ khác, hình thành hạ tầng kỹ thuật Quốc gia về điện khí LNG và các Trung tâm năng lượng – công nghiệp sinh thái phù hợp với định hướng Nghị quyết số 70-NQ/TW. Bên cạnh đó, về cơ chế chính sách, cần bổ sung quy định về cơ chế đảm bảo huy động sản lượng Qc làm cơ sở để triển khai thu xếp nguồn cung LNG theo các hợp đồng dài hạn, ổn định, liên tục với giá thành cạnh tranh. Ngoài ra, cần xây dựng chiến lược đa dạng hóa nguồn cung LNG theo các hợp đồng dài hạn, tránh phụ thuộc vào một nguồn cung gây ảnh hưởng lớn đến tính liên tục và ổn định cung cấp LNG, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, đặc biệt khi xảy ra các biến động địa chính trị.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Việt Sơn, việc phát triển hạ tầng LNG tại Việt Nam cần tập trung vào 5 vấn đề: Gắn với quy hoạch và nhu cầu tiêu thụ thực tế; thúc đẩy sử dụng chung hạ tầng và phát triển các trung tâm LNG phù hợp; tăng cường tính đồng bộ giữa thị trường khí và thị trường điện; đa dạng hóa nguồn cung và nâng cao năng lực quản trị rủi ro; mở rộng hợp tác quốc tế về đầu tư, công nghệ và tài chính.

Cụ thể, các hợp đồng cung cấp LNG, dịch vụ hạ tầng và mua bán điện cần phù hợp về khối lượng, thời hạn và tiến độ. Bên cạnh đó, cần có cơ chế phân bổ hợp lý rủi ro về giá nhiên liệu, tỷ giá, nghĩa vụ bao tiêu và huy động điện, tạo điều kiện thu xếp vốn cho các dự án, đồng thời kiểm soát tác động đến chi phí cung ứng điện và khả năng chi trả của nền kinh tế. Đặc biệt, cần kết hợp phù hợp giữa các hợp đồng dài hạn với mua giao ngay; lựa chọn đối tác và điều kiện thương mại trên cơ sở tổng chi phí, độ tin cậy và tính linh hoạt của nguồn cung. Các hình thức hợp tác, gom nhu cầu, mua chung LNG có thể được nghiên cứu trên cơ sở tự nguyện, minh bạch và phù hợp với pháp luật. Cùng đó, cần tăng cường dự báo và xây dựng phương án ứng phó với gián đoạn nguồn cung.

Hiện Bộ Công Thương đang tích cực hoàn thiện thể chế để thúc đẩy lĩnh vực LNG. Dự kiến tại kỳ họp Quốc hội lần này, Quốc hội khóa XVI sẽ thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực. Đồng thời, Bộ Công Thương tiếp tục hoàn thiện, cập nhật Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, dự kiến hoàn thành trong tháng 11 năm nay, nhằm tạo cơ sở thuận lợi hơn cho phát triển lĩnh vực LNG tại Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Việt Sơn cho biết.

Theo dự báo dài hạn, nhu cầu tiêu thụ LNG của Việt Nam dự kiến tăng mạnh từ khoảng 0,5 triệu tấn năm 2025 lên khoảng 17 triệu tấn vào năm 2050, trong đó khu vực miền Nam chiếm khoảng 65% tổng nhu cầu.

Anh Nguyễn/TTXVN

Dành cho bạn

Giá vàng SJC sáng 5/11 lên 144,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng SJC sáng 5/11 lên 144,5 triệu đồng/lượng

Sáng 5/11, giá vàng miếng SJC tăng 2,1 triệu đồng/lượng lên 141,5 - 144,5 triệu đồng/lượng, mức điều chỉnh mạnh nhất từ đầu tuần, nâng tổng mức tăng sau bốn ngày lên 4,5 triệu đồng/lượng. Đà đi lên bám theo giá vàng thế giới khi vừa có phiên tăng mạnh nhất kể từ tháng 8, khi đồng USD suy yếu.

Tỷ giá hôm nay 5/11: Giá USD thấp nhất một năm rưỡi

Tỷ giá hôm nay 5/11: Giá USD thấp nhất một năm rưỡi

Ngày 5/11, tỷ giá giữa Đồng Việt Nam (VND) với Đô la Mỹ (USD) và Nhân dân tệ (NDT) tại các ngân hàng tiếp tục đi xuống. Đáng chú ý, giá USD tại các ngân hàng đã giảm xuống mức thấp nhất trong vòng một năm rưỡi qua.