Diễn biến này cho thấy dư địa tăng trưởng của ngành cà phê Việt Nam không còn nằm chủ yếu ở sản lượng mà ngày càng phụ thuộc vào khả năng nâng chất lượng, chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và gia tăng giá trị sản phẩm.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 9 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,4 triệu tấn cà phê, trị giá 6,54 tỷ USD, tăng 15,4% về khối lượng nhưng giảm 7,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Giá xuất khẩu bình quân đạt 4.537,3 USD/tấn, giảm 19,7%.
Đức, Italy và Nhật Bản tiếp tục là những thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam, lần lượt chiếm 13,1%, 8,2% và 7,2% thị phần. Đáng chú ý, trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, Trung Quốc ghi nhận mức tăng giá trị 63,7%, cho thấy dư địa mở rộng thị trường và phát triển sản phẩm cà phê có giá trị cao tại châu Á.
Theo ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê và Ca cao Việt Nam (VICOFA), lượng cà phê xuất khẩu tăng nhưng kim ngạch giảm chủ yếu do giá cà phê thế giới đi xuống. Trong khoảng 3 năm giá cà phê tăng cao, nông dân tại nhiều quốc gia đã mở rộng đầu tư, diện tích và sản lượng, khiến nguồn cung thế giới có xu hướng gia tăng.
VICOFA dự báo sản lượng cà phê xuất khẩu năm 2026 có thể tăng khoảng 8-10% so với năm 2025 khi nguồn cung niên vụ mới bắt đầu được đưa ra thị trường. Tuy nhiên, tăng lượng xuất khẩu không đồng nghĩa kim ngạch sẽ tăng tương ứng nếu giá cà phê nhân tiếp tục chịu áp lực.
Thực tế này đặt ra yêu cầu chuyển trọng tâm từ tăng sản lượng sang nâng giá trị. Theo VICOFA, cà phê chế biến đạt kim ngạch khoảng 1,06 tỷ USD trong 8 tháng năm 2026, tăng 4,3%. Hiện cà phê chế biến sâu chỉ sử dụng khoảng 8-10% lượng nguyên liệu nhưng có thể đóng góp 17-18% kim ngạch xuất khẩu. Khoảng cách này cho thấy dư địa gia tăng giá trị còn rất lớn.
Những năm gần đây, một số doanh nghiệp như Intimex, Vĩnh Hiệp, Phúc Sinh… đã tăng đầu tư vào cà phê rang xay, hòa tan, phối trộn và xây dựng thương hiệu riêng. Nhu cầu đối với các sản phẩm này cũng tăng tại nhiều thị trường; trong đó có Trung Quốc.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Nam Hải, chế biến sâu vẫn gặp hai rào cản lớn là vốn và thị trường. Một nhà máy sản xuất cà phê hòa tan công suất khoảng 3.000 tấn/năm có thể cần vốn đầu tư tới 30 triệu USD, trong khi doanh nghiệp sẽ khó đầu tư lớn nếu chưa có thị trường đủ rộng.
Do đó, cùng với tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn dài hạn với chi phí phù hợp, xúc tiến thương mại cần được mở rộng sang các thị trường mới, nhất là Trung Quốc và các nước châu Á. Đây là cơ sở để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư chế biến, xây dựng thương hiệu và nâng tỷ trọng giá trị gia tăng.
Ông Lê Đức Huy, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Simexco Đắk Lắk cho rằng, ngành cà phê Việt Nam cần chuyển trọng tâm từ tăng sản lượng, năng suất sang nâng cao chất lượng, trách nhiệm và xây dựng thương hiệu. Cùng với đó, cần củng cố liên kết giữa người sản xuất và doanh nghiệp để ổn định nguồn hàng, kiểm soát chất lượng và đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Trong bối cảnh thị trường châu Âu ngày càng chú trọng tính minh bạch của chuỗi cung ứng, việc đáp ứng Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) cũng là yếu tố quan trọng để giữ thị trường.
Việt Nam đã tăng cường phối hợp với phía EU và xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ truy xuất nguồn gốc. Theo VICOFA, Việt Nam cần tập trung xuất khẩu cà phê nhân đáp ứng tiêu chí EUDR, nhất là khi mức độ đáp ứng của một số nước sản xuất khác chưa cao. Cùng với đó, cần phát triển các dòng cà phê đặc sản, cà phê hữu cơ và sản phẩm chế biến sâu phục vụ phân khúc cao cấp tại châu Âu.
Ông Thái Như Hiệp, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty TNHH Vĩnh Hiệp cho rằng, cơ cấu doanh nghiệp ngành cà phê còn phân tán, với khoảng 95% là doanh nghiệp vừa và siêu nhỏ, trong khi chỉ khoảng 5% là doanh nghiệp đầu tàu. Vì vậy, không một doanh nghiệp nào có thể tự mình mua toàn bộ sản lượng hoặc đưa sản phẩm cà phê Việt Nam ra toàn thế giới.
Theo ông Hiệp, các doanh nghiệp cần liên kết để hình thành hệ sinh thái và chuỗi giá trị có khả năng vươn ra toàn cầu. Liên kết không chỉ là cùng bán hàng hay xúc tiến thương mại mà còn phải bao gồm chia sẻ dữ liệu, thống nhất tiêu chuẩn, nâng chất lượng nguyên liệu và phát triển sản phẩm có sức cạnh tranh.
Vĩnh Hiệp hiện liên kết với hơn 10.000 hộ nông dân, phát triển vùng nguyên liệu theo các tiêu chuẩn 4C, Rainforest Alliance và hữu cơ; xây dựng mạng lưới sản xuất cà phê bền vững với sản lượng trên 150.000 tấn/năm, xuất khẩu tới hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ; trong đó châu Âu chiếm khoảng 60%.
Ông Thái Như Hiệp nhấn mạnh, robusta Việt Nam cần từng bước thoát khỏi vai trò nguyên liệu giá rẻ để trở thành sản phẩm có chất lượng và thương hiệu. Muốn vậy, doanh nghiệp phải tạo ra sản phẩm sạch, minh bạch, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn quốc tế và cạnh tranh bằng giá trị thay vì chỉ bằng giá.