Đề xuất sửa đổi, bổ sung 3 nhóm vấn đề Luật Quản lý thuế

Tại buổi họp báo chiều 20/2 của Tổng cục Thuế, bà Nguyễn Vân Chi, Vụ trưởng Vụ Chính sách (Tổng cục Thuế) cho biết: Tổng cục Thuế đã trình Bộ Tài chính về việc sửa đổi, bổ sung 20 nội dung thuộc 3 nhóm vấn đề của Luật Quản lý thuế.

Tại buổi họp báo chiều 20/2 của Tổng cục Thuế, bà Nguyễn Vân Chi, Vụ trưởng Vụ Chính sách (Tổng cục Thuế) cho biết: Tổng cục Thuế đã trình Bộ Tài chính về việc sửa đổi, bổ sung 20 nội dung thuộc 3 nhóm vấn đề của Luật Quản lý thuế.

Theo đó, nhóm vấn đề về đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế sẽ đề cập tới việc giảm tần suất kê khai từ 12 lần/năm xuống còn 4 lần/năm đối với người nộp thuế (NNT) quy mô vừa và nhỏ; rút ngắn thời hạn hoàn thuế, đối với trường hợp “hoàn thuế trước, kiểm tra sau” từ 15 ngày xuống còn 6 ngày; trường hợp “kiểm tra trước, hoàn thuế sau” từ 60 ngày xuống còn 40 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ...

Nhóm thứ 2 sẽ bổ sung cơ chế “Thỏa thuận trước” về phương pháp xác định giá (APA) trong chống chuyển giá. Theo bà Vân Chi, việc bổ sung cơ chế APA sẽ tạo sự chủ động cho doanh nghiệp trong lập kế hoạch kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ thuế. Nội dung sửa đổi nhằm mở rộng phạm vi thu thập, khai thác thông tin về NNT từ nguồn nước ngoài theo các hiệp định, điều ước đã ký.

Đại diện Vụ Chính sách (Tổng cục Thuế) cho biết: Nhóm vấn đề thứ 3 được sửa đổi nhằm nâng cao hiệu quả của quản lý thuế để phù hợp với thực tế và các văn bản pháp luật có liên quan. Thực tế hiện nay do cơ chế thông thoáng trong việc thành lập doanh nghiệp và doanh nghiệp có thể không thường xuyên thực hiện xuất nhập khẩu, nên có tình trạng lợi dụng chính sách để chây ỳ nợ thuế, sau đó bỏ trốn hoặc tự giải thể.

Để khắc phục tình trạng trên, Dự thảo Luật sẽ sửa đổi theo hướng chỉ cho phép ân hạn nộp thuế khi người nộp thuế có bảo lãnh; trong thời gian được bảo lãnh, người nộp thuế dù chưa nộp thuế nhưng vẫn được thông quan, giải phóng hàng hóa và phải trả lãi chậm nộp 0,05%/ngày trong thời gian bảo lãnh...

Minh Phương

Dành cho bạn

Cơ hội hợp tác Việt Nam- Na Uy về điện gió ngoài khơi

Cơ hội hợp tác Việt Nam- Na Uy về điện gió ngoài khơi

Với lợi thế tài nguyên gió và nền tảng công nghiệp dầu khí biển, Việt Nam đang thúc đẩy hợp tác với Na Uy về công nghệ, đầu tư và chuỗi cung ứng, mở rộng cơ hội phát triển điện gió ngoài khơi, hướng tới mục tiêu Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đề ra là tổng công suất 6.000 MW vào năm 2030 và 17.000 MW vào năm 2035.

Cao tốc Bến Lức - Long Thành đánh thức tiềm năng vùng- Bài 2: Để lợi thế hạ tầng thành động lực tăng trưởng

Cao tốc Bến Lức - Long Thành đánh thức tiềm năng vùng- Bài 2: Để lợi thế hạ tầng thành động lực tăng trưởng

Cao tốc Bến Lức - Long Thành mở thêm hành lang giao thông kết nối Đồng bằng sông Cửu Long với Thành phố Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ, tạo cơ hội mở rộng không gian phát triển cho các địa phương. Để biến lợi thế hạ tầng thành động lực tăng trưởng, Tây Ninh và Đồng Tháp hướng đến gắn quy hoạch giao thông với phát triển công nghiệp, logistics, kinh tế biển, nông nghiệp chế biến và cải thiện môi trường đầu tư thu hút dòng vốn đầu tư.

Chứng khoán hồi phục mạnh, xu hướng tăng cần thêm xác nhận

Chứng khoán hồi phục mạnh, xu hướng tăng cần thêm xác nhận

Sau bốn tuần giảm liên tiếp, VN-Index tăng 4% trong tuần 19 - 23/10, lên 1.774,15 điểm. Thanh khoản cải thiện, nhiều nhóm ngành phục hồi, nhưng khối ngoại vẫn bán ròng và dòng tiền vẫn tập trung ở một số cổ phiếu vốn hóa lớn. Vùng 1.780–1.800 điểm sẽ là phép thử đối với sức bền của nhịp tăng.

Cao tốc Bến Lức - Long Thành đánh thức tiềm năng vùng​ - Bài 1: Khơi thông dòng chảy hàng hóa

Cao tốc Bến Lức - Long Thành đánh thức tiềm năng vùng​ - Bài 1: Khơi thông dòng chảy hàng hóa

Gần một tháng đi vào hoạt động, tuyến cao tốc Bến Lức- Long Thành từng bước phát huy hiệu quả trong rút ngắn thời gian di chuyển, giảm chi phí logistics và tăng cường kết nối giao thông giữa Đông Nam Bộ với Đồng bằng sông Cửu Long. Sau 12 năm thi công, vượt sông rạch và rừng ngập mặn, tuyến cao tốc dài gần 58 km chính thức thông xe toàn tuyến vào tháng 10/2026, mở thêm hành lang giao thương, tạo điều kiện liên kết các khu công nghiệp, vùng sản xuất với hệ thống cảng biển, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế liên vùng.