Đẩy nhanh tiến độ Dự án thành phần 2 cao tốc An Hữu - Cao Lãnh

Giám đốc Ban Quản lý dự án dân dụng tỉnh Tiền Giang Nguyễn Thị Thanh Phương cho biết, Dự án thành phần 2 cao tốc An Hữu – Cao Lãnh qua địa bàn hai tỉnh Đồng Tháp và Tiền Giang có tổng mức đầu tư 3.856 tỷ đồng do UBND tỉnh Tiền Giang làm cơ quan chủ quản và Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp tỉnh Tiền Giang được giao làm chủ đầu tư.
Chú thích ảnh
Các phương tiện kỹ thuật khởi động trong buổi lễ khởi công Dự án thành phần 2 cao tốc An Hữu - Cao Lãnh, sáng 12/8. 

Dự án thành phần 2 cao tốc An Hữu - Cao Lãnh khởi công ngày 12/8/2024, dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2027. Tổng Công ty Xây dựng Trường Sơn, Binh đoàn 12 (Bộ Quốc phòng) đứng đầu Liên danh trúng thầu công trình. 

Dự án có tổng chiều dài toàn tuyến trên 11 km, trong đó đoạn qua Đồng Tháp 3,8 km và qua Tiền Giang 7,63 km. Điểm đầu giao với Dự án thành phần 1 tại Km16+000 thuộc xã Mỹ Hiệp, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Điểm cuối giao với tuyến cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận tại lý trình Km98+950, cách nút giao An Thái Trung khoảng 1,8 km thuộc xã An Thái Trung, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Theo bà Nguyễn Thị Thanh Phương, Giám đốc Ban Quản lý dự án dân dụng tỉnh Tiền Giang, sau lễ khởi công, các đơn vị nhà thầu tập trung mọi nguồn lực từ con người, tài chính, xe máy thiết bị và các điều kiện có liên quan tổ chức thi công quyết liệt, khoa học, đúng quy trình kỹ thuật, quyết tâm hoàn thành dự án đúng tiến độ, đảm bảo an toàn với chất lượng tốt nhất. sớm hoàn thành Dự án thành phần 2 cao tốc An Hữu - Cao Lãnh đưa vào sử dụng, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Để đảm bảo tiến độ dự án cũng như tháo gỡ kịp thời vướng mắc, khó khăn, tích cực giúp nhà thầu rút ngắn thời gian thi công theo kế hoạch đề ra, Tiền Giang quan tâm giải ngân nhanh nguồn vốn đầu tư theo từng giai đoạn dự án; chi trả bồi thường kịp thời và giải phóng mặt bằng, bàn giao đất sạch cho nhà thầu, tìm nguồn cát và vật liệu xây dựng phục vụ cho công trình,…

Theo đó, tổng diện tích đất phải thu hồi của dự án trên 83 ha, trong đó tỉnh Đồng Tháp trên 28 ha và tỉnh Tiền Giang gần 55 ha. Có tổng cộng 665 hộ bị ảnh hưởng. Trong đó tỉnh Đồng Tháp 188 hộ và Tiền Giang là 477 hộ dân.

Hiện nay, phía tỉnh Đồng Tháp đã chi trả đền bù giải tỏa cho 185 hộ dân, đạt gần 95% tổng số hộ; Tiền Giang đã hoàn thành chi trả cho 100% hộ dân bị ảnh hưởng bởi dự án.

Giám đốc Giám đốc Ban Quản lý dự án dân dụng tỉnh Tiền Giang Nguyễn Thị Thanh Phương cho biết, trong hai năm 2023 và 2024, tổng nguồn vốn giao khoảng 2.031 tỷ đồng. Đến cuối tháng 11/2024, Ban đã giải ngân được gần 2.013 tỷ đồng, đạt 99,11% tổng nguồn vốn giao.

Về nguồn vật liệu cát đắp nền và gia tải thì tổng nhu cầu cát khoảng 0,95 triệu m3 trong đó UBND tỉnh Đồng Tháp cung cấp 300.000 m3 cát thi công đoạn qua tỉnh Đồng Tháp, còn lại là Tiền Giang.

Dự kiến các mỏ cát của hai tỉnh Đồng Tháp và Tiền Giang phục vụ cho dự án sẽ đưa vào khai thác vào cuối năm 2024.

Với sự hỗ trợ tích cực của địa phương nói chung, Ban Quản lý dự án dân dụng tỉnh Tiền Giang với tư cách là chủ đầu tư nói riêng, Liên danh nhà thầu Dự án thành phần 2 cao tốc An Hữu - Cao Lãnh đang tập trung phương tiện, nhân lực, khẩn trương triển khai 34 mũi thi công. Trong đó, phần tuyến đã phát quang đạt 100%, đang tiến hành đào bóc hữu cơ, thi công đường công vụ… và những công tác khác trước khi thi công các hạng mục chính.

Về phần cầu đã tiến hành đóng cọc thử và đang đóng cọc đại trà. Tổng giá trị thi công hoàn thành đến cuối tháng 11/2024 đạt 122,5 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 5% giá trị về xây lắp. Lãnh đạo Tổng Công ty Xây dựng Trường Sơn, đại diện Liên danh nhà thầu phấn khởi cho biết, với sự hỗ trợ của các cấp, các ngành, Liên danh nhà thầu đang phấn đấu đẩy nhanh tiến độ, về đích vượt thời gian đề ra để sớm đưa công trình Dự án thành phần 2 cao tốc An Hữu - Cao Lãnh vào sử dụng, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Tin, ảnh: Minh Trí (TTXVN)

Dành cho bạn

Cơ hội hợp tác Việt Nam- Na Uy về điện gió ngoài khơi

Cơ hội hợp tác Việt Nam- Na Uy về điện gió ngoài khơi

Với lợi thế tài nguyên gió và nền tảng công nghiệp dầu khí biển, Việt Nam đang thúc đẩy hợp tác với Na Uy về công nghệ, đầu tư và chuỗi cung ứng, mở rộng cơ hội phát triển điện gió ngoài khơi, hướng tới mục tiêu Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đề ra là tổng công suất 6.000 MW vào năm 2030 và 17.000 MW vào năm 2035.

Cao tốc Bến Lức - Long Thành đánh thức tiềm năng vùng- Bài 2: Để lợi thế hạ tầng thành động lực tăng trưởng

Cao tốc Bến Lức - Long Thành đánh thức tiềm năng vùng- Bài 2: Để lợi thế hạ tầng thành động lực tăng trưởng

Cao tốc Bến Lức - Long Thành mở thêm hành lang giao thông kết nối Đồng bằng sông Cửu Long với Thành phố Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ, tạo cơ hội mở rộng không gian phát triển cho các địa phương. Để biến lợi thế hạ tầng thành động lực tăng trưởng, Tây Ninh và Đồng Tháp hướng đến gắn quy hoạch giao thông với phát triển công nghiệp, logistics, kinh tế biển, nông nghiệp chế biến và cải thiện môi trường đầu tư thu hút dòng vốn đầu tư.

Chứng khoán hồi phục mạnh, xu hướng tăng cần thêm xác nhận

Chứng khoán hồi phục mạnh, xu hướng tăng cần thêm xác nhận

Sau bốn tuần giảm liên tiếp, VN-Index tăng 4% trong tuần 19 - 23/10, lên 1.774,15 điểm. Thanh khoản cải thiện, nhiều nhóm ngành phục hồi, nhưng khối ngoại vẫn bán ròng và dòng tiền vẫn tập trung ở một số cổ phiếu vốn hóa lớn. Vùng 1.780–1.800 điểm sẽ là phép thử đối với sức bền của nhịp tăng.

Cao tốc Bến Lức - Long Thành đánh thức tiềm năng vùng​ - Bài 1: Khơi thông dòng chảy hàng hóa

Cao tốc Bến Lức - Long Thành đánh thức tiềm năng vùng​ - Bài 1: Khơi thông dòng chảy hàng hóa

Gần một tháng đi vào hoạt động, tuyến cao tốc Bến Lức- Long Thành từng bước phát huy hiệu quả trong rút ngắn thời gian di chuyển, giảm chi phí logistics và tăng cường kết nối giao thông giữa Đông Nam Bộ với Đồng bằng sông Cửu Long. Sau 12 năm thi công, vượt sông rạch và rừng ngập mặn, tuyến cao tốc dài gần 58 km chính thức thông xe toàn tuyến vào tháng 10/2026, mở thêm hành lang giao thương, tạo điều kiện liên kết các khu công nghiệp, vùng sản xuất với hệ thống cảng biển, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế liên vùng.