Xin cảm ơn Ngài đã nhận trả lời phỏng vấn của TTXVN. Thưa Ngài, một trong những kết quả nổi bật của quan hệ Việt Nam - Campuchia thời gian qua là việc duy trì thường xuyên các chuyến thăm, tiếp xúc cấp cao và các cơ chế trao đổi, qua đó củng cố tin cậy và tạo định hướng cho hợp tác trên nhiều lĩnh vực. Nhìn từ phía Campuchia, những thành quả nào trong hợp tác chính trị - ngoại giao thời gian qua đã tạo tác động rõ nét nhất đến các lĩnh vực hợp tác cụ thể, và theo Ngài, việc duy trì, phát huy các cơ chế này đang giúp hai nước phối hợp hiệu quả hơn như thế nào trong những vấn đề cùng quan tâm ở khu vực?
Đây là chuyến thăm chính thức đầu tiên của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng tới Campuchia kể từ khi ông đảm nhiệm cương vị Thủ tướng Chính phủ dù trước đó Thủ tướng Lê Minh Hưng đã gặp Thủ tướng Hun Manet tại Hà Nội và tại Cebu (Philippines).
Trong bối cảnh mối quan hệ giữa hai nước đang phát triển rất tốt đẹp, chuyến thăm lần này là một bước tiến mới, tiếp nối hoạt động trao đổi chuyến thăm cấp cao thường xuyên giữa lãnh đạo hai nước. Chuyến thăm của Thủ tướng Lê Minh Hưng diễn ra vào thời điểm Campuchia đang đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu với mức tăng trưởng vượt bậc; công tác đấu tranh, triệt phá các loại tội phạm xuyên quốc gia - nhất là tội phạm lừa đảo trực tuyến, thông qua việc tổ chức thành công Hội nghị quốc tế về chống lừa đảo trực tuyến, đã đạt được những kết quả tích cực trong thời gian gần đây; đồng thời, Campuchia cũng đang nỗ lực thúc đẩy hòa bình và giải quyết vấn đề biên giới Campuchia - Thái Lan trên cơ sở luật pháp quốc tế và các hiệp định hiện hành.
Về phía Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước đang đạt được những kết quả quan trọng trong tiến trình cải cách thể chế mang tính lịch sử, với nhiều cuộc cải cách có quy mô lớn. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đang có xu hướng tăng mạnh. Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ, hướng tới thực hiện các mục tiêu chiến lược của hai mốc 100 năm mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra cho năm 2030 và năm 2045.
Do đó, chuyến thăm lần này của Thủ tướng Lê Minh Hưng có ý nghĩa hết sức quan trọng. Đây là cơ hội để củng cố và mở rộng mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện và bền vững lâu dài giữa hai nước trong giai đoạn phát triển mới. Chuyến thăm cũng nhằm hiện thực hóa tinh thần chỉ đạo chiến lược của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, cụ thể là Chủ tịch Thượng viện Campuchia Hun Sen và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, tại cuộc gặp vào tháng 2/2026. Đây là định hướng mang tính chiến lược. Hai nước cũng đang hướng tới kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 2027. Bên cạnh đó, Thủ tướng hai nước cũng sẽ trao đổi về các vấn đề khu vực và quốc tế mà hai bên cùng quan tâm và có lợi ích chung.
Trên nền tảng tin cậy chính trị ngày càng được củng cố, hợp tác kinh tế - thương mại, đầu tư, du lịch, quốc phòng - an ninh giữa hai nước cũng đạt nhiều kết quả tích cực. Nếu nhìn vào những kết quả đã đạt được, Ngài đánh giá đâu là những mô hình hợp tác cho thấy rõ nhất việc quan hệ chính trị đang được chuyển hóa thành lợi ích phát triển thiết thực cho người dân và doanh nghiệp hai nước? Và trong thời gian tới, Campuchia mong muốn hai bên nhân rộng những mô hình này sang các lĩnh vực mới như kinh tế số, khoa học - công nghệ, chuyển đổi xanh, logistics và phát triển nguồn nhân lực như thế nào?
Đây chính là câu hỏi và cũng là vấn đề cốt lõi trong mối quan hệ giữa hai nước hiện nay. Nhìn lại năm 2025 vừa qua, chúng ta có thể thấy hợp tác giữa Campuchia và Việt Nam đã đạt được những bước phát triển rất đáng ghi nhận. Lượng khách du lịch Việt Nam đến Campuchia đã vươn lên vị trí dẫn đầu trong số các thị trường khách quốc tế, đạt hơn 1,2 triệu lượt người. Cũng trong năm 2025, số lượng khách du lịch Campuchia sang Việt Nam cũng thuộc top đầu trong số các quốc gia ASEAN.
Kim ngạch thương mại song phương giữa hai nước trong năm vừa qua đã vượt mốc 11,3 tỷ USD, tăng mạnh so với mức trên 10 tỷ USD trước đó, giúp Việt Nam tiếp tục duy trì vị thế là đối tác thương mại lớn thứ ba của Campuchia, chỉ sau Trung Quốc và Mỹ. Về đầu tư, các nhà đầu tư Việt Nam hiện đã triển khai khoảng 104 dự án tại Campuchia, với tổng vốn đăng ký đạt hơn 3,2 tỷ USD.
Mối quan hệ hợp tác đa lĩnh vực giữa các bộ, ngành, cơ quan từ cấp trung ương đến địa phương, đặc biệt tại các cửa khẩu biên giới, đang diễn ra rất năng động và ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Trong chuyến thăm lần này, lãnh đạo Chính phủ hai nước dự kiến sẽ thảo luận về việc thúc đẩy hoàn tất các quyết định liên quan đến kết nối hạ tầng giao thông. Trọng tâm là tuyến đường cao tốc Phnom Penh - Bavet kết nối với tuyến Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài, qua đó hoàn thiện tuyến cao tốc kết nối Phnom Penh với Thành phố Hồ Chí Minh; mở rộng kết nối đường bộ, đường thủy, cũng như tăng cường tần suất các chuyến bay giữa hai nước.
Trong lĩnh vực kinh tế - thương mại, hai bên sẽ trao đổi về việc đơn giản hóa các thủ tục vận tải hàng hóa qua biên giới nhằm tiết kiệm thời gian và giảm chi phí logistics.
Hai bên cũng sẽ thúc đẩy kết nối hạ tầng mạng lưới điện hiện có giữa ba nước Campuchia - Việt Nam - Lào, góp phần vào mạng lưới liên kết điện của toàn khu vực ASEAN; đồng thời đẩy mạnh hợp tác du lịch giữa ba nước với tiêu chí “Ba quốc gia - Một điểm đến”. Hai bên cũng sẽ tiếp tục đẩy mạnh hợp tác trên các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, giáo dục, văn hóa, y tế, thông tin và truyền thông.
Hoạt động kết nối thương mại, đầu tư và du lịch giữa hai nước đang ngày càng tăng trưởng qua từng năm. Trước đó, Thủ tướng Hun Manet đã bày tỏ lạc quan rằng kim ngạch thương mại giữa Campuchia và Việt Nam sẽ sớm đạt mục tiêu 20 tỷ USD trong thời gian tới, thay vì mức khoảng 12 tỷ USD như hiện nay.
Về công tác biên giới, hai bên sẽ tiếp tục chỉ đạo Ủy ban Biên giới hai nước đàm phán, giải quyết 16% tuyến biên giới chung còn lại chưa được phân giới, cắm mốc, nhằm sớm hoàn tất toàn bộ công tác phân giới, cắm mốc biên giới giữa hai nước.
Liên quan đến vấn đề biên giới Campuchia - Thái Lan, phía Campuchia cũng gửi lời cảm ơn tới Việt Nam vì đã cử Nhóm quan sát viên chuyển tiếp (IOT) thuộc Tùy viên Quốc phòng Việt Nam, đồng thời tiếp tục cử cán bộ tham gia Nhóm quan sát viên ASEAN (AOT) để hỗ trợ giải quyết các vấn đề liên quan đến biên giới.
Dự kiến trong chuyến thăm lần này, hai bên sẽ tiến hành ký kết một số Bản ghi nhớ (MOU) đang được các cơ quan chức năng của hai nước tích cực hoàn thiện. Tôi tin tưởng rằng chuyến thăm lần này sẽ là một sự kiện có ý nghĩa lịch sử và đạt được những kết quả to lớn, góp phần củng cố, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết và gắn bó như anh em giữa hai dân tộc.
Một quan hệ song phương bền vững không chỉ được đo bằng các thỏa thuận giữa Chính phủ hay những con số về thương mại, mà còn bằng mức độ gần gũi và hiểu biết giữa người dân hai nước. Từ những kết quả tích cực trong giáo dục, văn hóa, du lịch và giao lưu nhân dân thời gian qua, theo Ngài, đâu là những cách làm có thể đưa quan hệ Việt Nam - Campuchia đến gần hơn với thế hệ trẻ, đồng thời kết hợp giao lưu văn hóa - giáo dục với khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và cơ hội học tập, làm việc của thanh niên hai nước, để thế hệ trẻ không chỉ tiếp nhận mà còn trở thành những chủ thể tạo nên những thành quả mới của quan hệ song phương?
Trong vài thập niên qua, những bài học lịch sử trong quan hệ ngoại giao cũng như giao lưu nhân dân luôn được các cấp lãnh đạo và nhân dân hai nước đặc biệt quan tâm.
Trước hết, xuất phát từ việc hai nước có vị trí địa lý liền kề, luôn “sát cánh bên nhau”, yếu tố địa - chính trị đã gắn kết vận mệnh của hai quốc gia. Có thể nói chỉ khi một nước có hòa bình, ổn định và phát triển thì nước kia mới có thể đạt được hòa bình, ổn định và phát triển một cách toàn diện. Theo đó, hai quốc gia đã cùng nhau trải qua nhiều giai đoạn kề vai sát cánh, giúp đỡ lẫn nhau trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp; vượt qua các cuộc xâm lược từ bên ngoài; cũng như trong cuộc đấu tranh giành lại độc lập và thống nhất lãnh thổ của Việt Nam.
Gần đây nhất, khi đất nước Campuchia rơi vào thảm họa của chế độ diệt chủng Khmer Đỏ với những cuộc tàn sát vô cùng tàn khốc, Quân tình nguyện Việt Nam đã không tiếc máu xương, sát cánh cùng các lực lượng giải phóng dân tộc Campuchia, góp phần cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng, giúp Campuchia khôi phục và từng bước phát triển đất nước cho đến ngày nay.
Chính vì vậy, việc bồi dưỡng, nâng cao nhận thức về các bài học lịch sử và sự hy sinh to lớn của các thế hệ đi trước nhằm ghi nhớ, tiếp tục gìn giữ và phát huy mối quan hệ hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện trên mọi lĩnh vực; củng cố niềm tin chính trị; giải quyết các bất đồng bằng biện pháp hòa bình; kiên trì đàm phán ngoại giao trên tinh thần hợp tình, hợp lý; hỗ trợ lẫn nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn; đồng thời học hỏi lẫn nhau để thúc đẩy sự nghiệp hòa bình, phát triển và tiến bộ của mỗi quốc gia.
Điều này mang ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn, đặc biệt trong bối cảnh các thế lực phản động đang điên cuồng chống phá nhằm chia rẽ mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết và gắn bó như anh em giữa hai nước - vốn là một nguồn sức mạnh quan trọng của chúng ta.
Thế hệ trẻ chính là lực lượng kế tục, là đội ngũ lãnh đạo kế cận của cả hai đất nước trong tương lai. Do đó, việc hiểu biết sâu sắc về các bài học lịch sử, về mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện và bền vững lâu dài sẽ giúp thế hệ lãnh đạo kế cận tiếp tục duy trì, vun đắp và đưa mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa Campuchia và Việt Nam ngày càng phát triển phồn vinh. Việc tăng cường giao lưu nhân dân, đặc biệt giữa lực lượng thanh niên và cán bộ trẻ kế cận, cũng như đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có vai trò vô cùng quan trọng.
Tôi xin nhắc lại vào năm 2027, hai nước chúng ta sẽ kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Đây là cơ hội rất tốt để giáo dục thế hệ trẻ của hai nước hiểu rõ tầm quan trọng chiến lược của tình hữu nghị truyền thống và sự giúp đỡ lẫn nhau giữa hai dân tộc.
Đặc biệt, trong thời gian gần đây, Thủ tướng Hun Manet luôn ủng hộ việc đào tạo, bồi dưỡng sâu rộng đội ngũ cán bộ trẻ của cả hai nước. Công tác này sẽ góp phần củng cố và mở rộng tình hữu nghị, đoàn kết, đồng thời tăng cường sự tin cậy lẫn nhau giữa thế hệ trẻ và những người kế thừa trong tương lai. Vì vậy, thanh niên hai nước cần nghiên cứu, hiểu sâu sắc và khắc ghi những bài học lịch sử quý báu này.
Trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!