Tại hội thảo, các chuyên gia, nhà khoa học tập trung trao đổi về định hướng chuyển đổi xanh, chuyển đổi số trong sản xuất lúa; tổ chức sản xuất, liên kết chuỗi và phát triển thị trường carbon từ các mô hình lúa phát thải thấp; cơ chế hình thành tín chỉ carbon theo Điều 6.4 của Thỏa thuận Paris trong khuôn khổ Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) và kết quả thử nghiệm hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) đối với sản xuất lúa gạo Việt Nam. Các đại biểu cũng tham vấn việc áp dụng tiêu chuẩn VietFarm trong trồng trọt phát thải thấp và khả năng triển khai trong sản xuất lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Chủ tịch Tổng Hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Hồ Xuân Hùng cho rằng, Đồng bằng sông Cửu Long vừa là vùng sản xuất lúa trọng điểm của cả nước, vừa chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu. Trong bối cảnh mới, sản xuất lúa gạo cần chuyển từ chú trọng năng suất, sản lượng sang nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng, tiết kiệm tài nguyên và giảm phát thải khí nhà kính. Đây cũng là tinh thần cốt lõi của Đề án Phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030.
Ông Hồ Xuân Hùng nhấn mạnh, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số trong sản xuất lúa cần được triển khai đồng bộ; trong đó, chuyển đổi xanh hướng đến phương thức sản xuất tiết kiệm tài nguyên, giảm chi phí, giảm phát thải, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm; chuyển đổi số hỗ trợ minh bạch dữ liệu, truy xuất nguồn gốc, kết nối thị trường và đo lường hiệu quả chuyển đổi xanh cho người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
Để các mô hình lúa chất lượng cao, phát thải thấp được duy trì và nhân rộng, việc thực hiện Đề án cần lấy hiệu quả kinh tế của người nông dân làm trọng tâm. Sản xuất phải giúp giảm chi phí đầu vào, nâng cao chất lượng nông sản, bảo đảm đầu ra ổn định; trong đó, hiệu quả thực tế trên đồng ruộng là cơ sở quan trọng để đánh giá giá trị của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Cùng với đó, giá trị của các giải pháp công nghệ và nền tảng số phải thể hiện ở khả năng áp dụng thực tế, hỗ trợ liên kết sản xuất, minh bạch truy xuất nguồn gốc và đo lường, xác minh kết quả giảm phát thải. Đây là cơ sở để các mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp triển khai hiệu quả và có khả năng nhân rộng.
Quang cảnh hội thảo.
Phát biểu tại hội thảo, Nhà giáo Ưu tú, PGS.TS. Lương Minh Cừ, Hiệu trưởng Trường Đại học Cửu Long, cho biết Nhà trường xác định đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và kết nối phục vụ cộng đồng là những nhiệm vụ trọng tâm. Trong lĩnh vực nông nghiệp, Trường tập trung nghiên cứu các vấn đề gắn với thực tiễn sản xuất như dinh dưỡng, quản lý phân bón, đất, nước, sử dụng vật liệu hữu cơ và các giải pháp canh tác hiệu quả, bền vững.
Theo đó, nghiên cứu khoa học phải xuất phát từ thực tiễn và trở lại phục vụ thực tiễn. Trên cơ sở đó, nhà trường mong muốn tiếp tục tham gia nghiên cứu, chuyển giao khoa học - công nghệ, xây dựng mô hình sản xuất lúa phát thải thấp, đồng thời tăng cường hợp tác với cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân trong nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực.
Ông Lương Minh Cừ cho rằng, để sản xuất lúa phát thải thấp thực sự đi vào cuộc sống, Đề án cần lấy hiệu quả của người nông dân làm trung tâm. Các giải pháp kỹ thuật phải phù hợp với điều kiện sản xuất, khả năng đầu tư và lợi ích kinh tế của người dân; giảm phát thải cần gắn với giảm chi phí, nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm để nông dân thấy rõ hiệu quả và chủ động tham gia. Bên cạnh đó, các địa phương cần tăng cường liên kết khoa học - công nghệ với sản xuất và thị trường, từng bước hình thành hệ thống sản xuất có khả năng áp dụng, nhân rộng và tạo giá trị.
Đại biểu trình bày tham luận tại hội thảo.
Chia sẻ về định hướng chuyển đổi xanh, chuyển đổi số trong phát triển lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời gian tới, Tiến sĩ Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch Thường trực Tổng Hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam cho rằng, cần đưa tiến bộ kỹ thuật vào đồng ruộng, bảo đảm dữ liệu phản ánh đúng thực tế sản xuất; các bên trong chuỗi cùng chia sẻ trách nhiệm, lợi ích. Quá trình thực hiện Đề án cần lấy thu nhập ròng của nông dân làm thước đo, cùng các chỉ tiêu về chi phí, lợi nhuận, mức độ ổn định của hợp đồng tiêu thụ và giá trị gia tăng người trồng lúa thực nhận. Đồng thời, cần phân định rõ diện tích đăng ký, diện tích áp dụng quy trình, diện tích tuân thủ đầy đủ và diện tích có kết quả giảm phát thải được thẩm định.
Theo ông Ngọc, các địa phương cần đầu tư hạ tầng vùng sản xuất liên kết, nhất là thủy lợi, giao thông, điểm tập kết rơm, hệ thống sấy và kho bảo quản; phát triển dịch vụ hỗ trợ hợp tác xã về quản trị, kỹ thuật canh tác, thiết bị, ghi chép dữ liệu và thương thảo hợp đồng, bảo đảm công nghệ được sử dụng hiệu quả sau giai đoạn thí điểm. Việc triển khai Đề án cũng cần xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch, phát huy vai trò của trường đại học, viện nghiên cứu và các hội nghề nghiệp, từng bước hình thành chuỗi sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp có khả năng nhân rộng, mang lại lợi ích thiết thực cho nông dân.