Chủ động quỹ mỏ vật liệu xây dựng cho các dự án đến năm 2045

Nhiều địa phương vẫn thiếu cát, đá, đất đắp dù đã có mỏ khai thác, trong khi nhu cầu hạ tầng tiếp tục tăng. Chính phủ yêu cầu chuẩn bị quỹ mỏ từ sớm, hướng tới bảo đảm nguồn vật liệu cho các dự án giai đoạn 2030-2045.

Yêu cầu này được đưa ra trong bối cảnh thực tế triển khai các dự án hạ tầng năm 2026 cho thấy nguồn vật liệu vẫn là một trong những điểm nghẽn, không chỉ do thiếu tài nguyên mà còn bởi công suất khai thác, thủ tục mở mỏ, chất lượng vật liệu, vận chuyển và khả năng điều phối giữa các địa phương.

Chú thích ảnh
Mỏ đá Bản Cầm, xã Bản Cầm, Lào Cai. Ảnh minh họa: Quốc Khánh/TTXVN

Nguồn vật liệu vẫn là điểm nghẽn

Tại văn bản số 8368/VPCP-CN ngày 18/8/2026, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu các tỉnh, thành phố chủ động chuẩn bị quỹ mỏ vật liệu xây dựng phục vụ các dự án giai đoạn 2030-2045, tránh bị động khi triển khai các công trình quy mô lớn.

Khảo sát thực tế tại Cần Thơ cho thấy, áp lực nguồn cung đang thể hiện rõ ở cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng. Ông Lê Minh Cường - Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông và nông nghiệp thành phố Cần Thơ thông tin, thành phố dự kiến đưa mỏ cát MS01 trên sông Hậu vào khai thác để phục vụ dự án này.

Trước đó, ông Võ Nhựt Quang - Phó giám đốc Sở Tài chính Cần Thơ thông tin, địa phương này cũng đề nghị cơ quan chức năng khẩn trương hoàn thiện thủ tục mở mỏ mới, điều chỉnh quy mô các mỏ đang hoạt động và điều phối nguồn vật liệu. Bởi theo ông Quang, dù có nhiều mỏ cung cấp cho dự án, sản lượng khai thác thực tế vẫn thấp hơn nhu cầu.

Thực trạng này không riêng Cần Thơ. Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, ghi nhận ở thời điểm tháng 7/2026, các dự án tại Đồng bằng sông Cửu Long còn thiếu hoặc chưa xác định nguồn hơn 6 triệu m3 đá, 1,8 triệu m3 cát xây dựng, gần 30 triệu m3 cát san lấp và hơn 3 triệu m3 đất đắp.

Tại TP. Hồ Chí Minh, rà soát năm 2026 cho thấy thành phố có nguy cơ thiếu khoảng 4 triệu m3 đá, 14,34 triệu m3 cát xây dựng, 50,5 triệu m3 cát san lấp và 8,8 triệu m3 đất san lấp. Đáng chú ý, khả năng đáp ứng cát san lấp giai đoạn 2027-2030 chỉ khoảng 14,6% nhu cầu.

Thanh Hóa cũng ghi nhận tình trạng tương tự. Theo ông Vũ Ngọc Biên - Phó trưởng phòng Địa chất Khoáng sản, Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa, nhu cầu đất san lấp năm 2026 của địa phương khoảng 75,58 triệu m3 nguyên khai, trong khi công suất các mỏ được cấp phép chưa đáp ứng nhu cầu.

Ở góc độ nhà thầu, ông Nguyễn Thành Luân - Phụ trách điều hành dự án hoàn thiện hầm Thần Vũ tại Nghệ An phản ánh, giá cát, đá, đất tăng mạnh hồi đầu năm khiến doanh nghiệp chịu áp lực chi phí. Đến tháng 7, dù giá nhiên liệu đã giảm nhưng giá vật liệu tại mỏ vẫn ở mức cao; có thời điểm nhà thầu phải chờ cả ngày nhưng chỉ lấy được 2-3 chuyến vật liệu.

Những ghi nhận thực tế này cho thấy, thiếu vật liệu không đơn thuần là thiếu tài nguyên. Một địa phương có thể có mỏ nhưng công suất khai thác chưa đủ, thủ tục mở mỏ mới kéo dài hoặc năng lực vận chuyển không theo kịp nhu cầu.

Tại hội nghị tổng kết các dự án cao tốc giai đoạn 2021-2025, ông Lê Quyết Tiến - Cục trưởng Cục Kinh tế - Quản lý đầu tư xây dựng cũng từng chỉ rõ, nguồn vật liệu là một trong những nút thắt của các công trình giao thông. Theo Tiến, cần nghiên cứu quy hoạch các mỏ vật liệu phục vụ riêng cho những dự án cao tốc trọng điểm trong bối cảnh nhiều công trình được triển khai đồng loạt.

Chuẩn bị nguồn cung cho 15 năm tới

Chú thích ảnh
Một cơ sở sản xuất cát ở thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Ảnh minh họa: Chu Hiệu/TTXVN

Hiện nay, một số địa phương đã bắt đầu chuyển sang cách tiếp cận dài hạn. Tháng 6 vừa qua, Hà Nội phê duyệt Đề án quản lý, phát triển nguồn cung khoáng sản làm vật liệu xây dựng phục vụ các dự án giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2050.

Theo đề án, nhu cầu giai đoạn 2026-2030 của Hà Nội dự kiến khoảng 477,46 triệu m3 cát, 555,63 triệu m3 đá và 770,81 triệu m3 đất đắp, trong khi khả năng cung ứng tương ứng khoảng 56,58 triệu m3 cát, 11,25 triệu m3 đá và 20,62 triệu m3 đất đắp. Vì vậy, thành phố phải tính đến việc bổ sung nguồn cung, khai thác hợp lý các mỏ hiện có và kết nối nguồn vật liệu liên vùng.

Từ thực tế này, yêu cầu mới của Chính phủ đặt trọng tâm vào việc chuẩn bị nguồn vật liệu trước khi nhu cầu phát sinh. Theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Phạm Gia Túc, Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao chủ trì xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn cung vật liệu xây dựng, tích hợp thông tin về mỏ, trữ lượng, công suất khai thác, nhu cầu sử dụng và khả năng điều phối. Dữ liệu được cập nhật thường xuyên để phục vụ quản lý, điều hành.

Bản đồ số quốc gia về nguồn cung vật liệu xây dựng sẽ được công bố định kỳ hằng năm. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng được giao phối hợp với các bộ, ngành và địa phương xây dựng trong tháng 10/2026 cơ chế điều phối nguồn vật liệu liên vùng, liên tỉnh, ưu tiên cho các công trình, dự án quan trọng quốc gia.

Chính phủ đồng thời yêu cầu xây dựng cơ chế dự phòng nguồn vật liệu và điều phối theo vùng kinh tế, cùng hệ thống dự báo cung - cầu theo từng vùng, từng loại vật liệu và từng giai đoạn phát triển.

Với các tỉnh, thành phố, nhiệm vụ trước mắt là hoàn thành lập, phê duyệt và tổ chức thực hiện Đề án đánh giá tiềm năng khoáng sản nhóm III, nhóm IV trước quý II/2027. Các địa phương phải bố trí kinh phí cho điều tra địa chất, đánh giá tiềm năng khoáng sản và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chất, khoáng sản.

Đồng thời, các địa phương phải rà soát, cập nhật quy hoạch tỉnh và các quy hoạch liên quan, bổ sung khu vực có tiềm năng khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, bảo đảm đồng bộ với quy hoạch phát triển hạ tầng. Với các mỏ đang khai thác, địa phương cần rà soát, xem xét điều chỉnh công suất đối với những mỏ đủ điều kiện.

Thực tế của năm 2026 cho thấy, bài toán quỹ mỏ cho giai đoạn 2030-2045 không chỉ là mở thêm mỏ mà đòi hỏi phải chủ động chuẩn bị trước về quy hoạch, trữ lượng, công suất, thủ tục, chất lượng vật liệu, logistics và cơ chế điều phối.

Khi nhiều cao tốc, sân bay, đường vành đai, khu công nghiệp và công trình trọng điểm được triển khai đồng thời, việc một địa phương có tài nguyên nhưng thiếu công suất vẫn có thể trở thành điểm nghẽn. Ngược lại, nếu nguồn cung được xác định và kết nối từ sớm, vật liệu có thể được điều phối giữa các khu vực theo nhu cầu.

Đây là bước chuyển từ cách làm "có dự án mới tìm mỏ" sang chuẩn bị năng lực cung ứng cho cả một chu kỳ đầu tư hạ tầng, qua đó giảm nguy cơ công trình đã sẵn sàng thi công nhưng phải chờ vật liệu.

Thu Hằng (TTXVN)

Dành cho bạn

TP Hồ Chí Minh quảng bá Diễn đàn Kinh tế mùa Thu tại Seoul

TP Hồ Chí Minh quảng bá Diễn đàn Kinh tế mùa Thu tại Seoul

TP Hồ Chí Minh đã triển khai quảng bá Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026 trên hệ thống màn hình điện tử tại phố đi bộ Myeongdong ở Seoul (Hàn Quốc). Hoạt động nhằm đưa thông tin sự kiện đến doanh nghiệp, nhà đầu tư và công chúng quốc tế trước ngày khai mạc.

Bộ Xây dựng rốt ráo thực hiện '6 rõ' trong giải ngân

Bộ Xây dựng rốt ráo thực hiện '6 rõ' trong giải ngân

Thời gian thi công từ nay đến cuối năm 2026 chỉ còn hơn 2 tháng, trong khi khối lượng công việc còn lại rất lớn, nếu các cơ quan, đơn vị không có sự nỗ lực vượt bậc sẽ không thể giải ngân hết số vốn được giao - Đây là nhận định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh tại Chỉ thị về việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân kế hoạch đầu tư công năm 2026 mới đây; đồng thời yêu cầu tổ chức điều hành và giải ngân dự án phải thể hiện cụ thể nội dung “6 rõ” (Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền) để bảo đảm hiệu quả giải quyết công việc.

Cơ hội hợp tác Việt Nam- Na Uy về điện gió ngoài khơi

Cơ hội hợp tác Việt Nam- Na Uy về điện gió ngoài khơi

Với lợi thế tài nguyên gió và nền tảng công nghiệp dầu khí biển, Việt Nam đang thúc đẩy hợp tác với Na Uy về công nghệ, đầu tư và chuỗi cung ứng, mở rộng cơ hội phát triển điện gió ngoài khơi, hướng tới mục tiêu Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đề ra là tổng công suất 6.000 MW vào năm 2030 và 17.000 MW vào năm 2035.

Cao tốc Bến Lức - Long Thành đánh thức tiềm năng vùng- Bài 2: Để lợi thế hạ tầng thành động lực tăng trưởng

Cao tốc Bến Lức - Long Thành đánh thức tiềm năng vùng- Bài 2: Để lợi thế hạ tầng thành động lực tăng trưởng

Cao tốc Bến Lức - Long Thành mở thêm hành lang giao thông kết nối Đồng bằng sông Cửu Long với Thành phố Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ, tạo cơ hội mở rộng không gian phát triển cho các địa phương. Để biến lợi thế hạ tầng thành động lực tăng trưởng, Tây Ninh và Đồng Tháp hướng đến gắn quy hoạch giao thông với phát triển công nghiệp, logistics, kinh tế biển, nông nghiệp chế biến và cải thiện môi trường đầu tư thu hút dòng vốn đầu tư.