Chia sẻ kinh nghiệm sản xuất sản phẩm chế biến từ nhãn, vải

Sáng 7/6 tại Hà Nội, Viện Nghiên cứu rau quả (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) phối hợp với Hội Nghề vườn quốc tế (ISHS) tổ chức hội nghị nhãn, vải quốc tế lần thứ 6.
Chú thích ảnh
Các đại biểu tham quan gian hàng trưng bày vải thiều tại Hội nghị. Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN

Ông Nguyễn Quốc Hùng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu rau quả, nhãn, vải là các cây ăn quả là các cây ăn quả quan trọng và đang đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam trong những năm gần đây. Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật đã đươc đưa vào áp dụng trong sản xuất các loại quả đặc sản này của Việt Nam. Tuy nhiên, chúng ta cũng đang gặp một số khó khăn về kỹ thuật canh tác, công nghệ sau thu hoạch và thị trường tiêu thụ. 

Hiện nay, sản phẩm nhãn, vải chế biến chỉ chiếm 10% tổng sản lượng sản phẩm, tiêu thụ chủ yếu vẫn là sản phẩm tươi. Sản phẩm tươi sẽ luôn phải chịu yêu cầu khắt khe về chất lượng truy xuất nguồn gốc, kiểm dịch của các thị trường nhập khẩu. Điển hình thị trường Trung Quốc cũng ngày càng thắt chặt trong việc kiểm dịch, dán nhãn, truy xuất nguồn gốc. Do đó, phải luôn cập nhật cũng như nghiêm túc thực hiện các yêu cầu đó để sản phẩm có thể vào được các thị trường. 

Ông Nguyễn Quốc Hùng cho biết, trên thế giới, nhãn, vải được tập trung sản xuất ở một số nước như: Thái, Lan, Ấn Độ, Trung Quốc… Tuy nhiên, do thời vụ thu hoạch, chất lượng giống của các nước khác nhau nên hoàn toàn có cơ hội đưa sản phẩm nhãn, vải của Việt Nam vào thị trường thế giới.

Chia sẻ về sản xuất vải của địa phương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Viết Toàn cho biết, Bắc Giang có trên 28.000 ha vải, cho sản lượng trên 90.000 tấn mỗi năm. Đặc biệt, Bắc Giang có thương hiệu “Vải thiều Lục Ngạn” đã xuất khẩu và có mặt tại các thị trường như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh, Pháp, Australia, các nước Đông Nam Á...; đang được bảo hộ nhãn hiệu tại 8 quốc gia là Trung Quốc, Mỹ, Nhật, Australia, Hàn Quốc, Singapore, Lào, Campuchia.

Để đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu, năm 2019,  Lục Ngạn đã có 18 mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu sang Hoa Kỳ; 36 mã số vùng trồng để đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc. Nhờ sản lượng ổn định, chất lượng, mẫu mã sản phẩm được đánh giá tốt hơn hẳn so với năm trước, các doanh nghiệp, thương nhân Trung Quốc và các tỉnh miền Nam đã đến khảo sát, đặt mua hàng ngay từ đầu vụ.

Chú thích ảnh
Quang cảnh Hội nghị. Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN

Tại hội nghị, các nhà khoa học, nghiên cứu, chuyên gia… hàng đầu trong nước và quốc tế đã chia sẻ về thực trạng sản xuất, việc bảo tồn đa dạng di truyền, chọn tạo giống, công nghệ sinh học, quản lý sâu bệnh hại, quản lý sau thu hoạch…  cho nhãn, vải nói riêng và các cây ăn quả thuộc họ bồ hòn nói chung.

Sau hội nghị, các đại biểu sẽ có chuyến tham quan thực địa tới vùng chuyên canh và các cơ sở chế biến vải tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Đây là một trong những địa phương có diện tích trồng vải lớn nhất cả nước, tìm hiểu về sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ vải nơi đây. 

Năm 2018, Việt Nam có khoảng 160.000 ha nhãn, vải, chôm chôm thuộc họ cây bồ hòn và kim ngạch xuất khẩu đạt trên 320 triệu USD.

Bích Hồng (TTXVN)

Dành cho bạn

Tìm phương án gỡ khó cho dự án trọng điểm ven biển Lâm Đồng

Tìm phương án gỡ khó cho dự án trọng điểm ven biển Lâm Đồng

Ngày 24/10, ông Nguyễn Minh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng cùng các đơn vị liên quan đã đến kiểm tra tiến độ thi công và tháo gỡ khó khăn liên quan dự án kè bảo vệ bờ biển thôn Vĩnh Tiến (xã Vĩnh Hảo) và công trình hồ chứa nước Ka Pét được xây dựng tại xã Hàm Thạnh. Đây là các công trình trọng điểm của tỉnh Lâm Đồng.

Phà Cát Lái và Bình Khánh sẽ điều chỉnh giá vé từ ngày 28/10

Phà Cát Lái và Bình Khánh sẽ điều chỉnh giá vé từ ngày 28/10

Từ ngày 28/10, giá vé qua phà Cát Lái và phà Bình Khánh (TP Hồ Chí Minh) sẽ tăng do chi phí nhiên liệu biến động mạnh từ tháng 3 đến nay. Hành khách đi bộ, xe đạp và xe gắn máy có mức phí tăng 1.000 đồng/lượt, trong khi giá vé ô tô tăng tùy loại phương tiện.

Đổi mới chính sách thu hút FDI, tạo động lực tăng trưởng hai con số

Đổi mới chính sách thu hút FDI, tạo động lực tăng trưởng hai con số

Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần đạt khoảng 40% GDP, hệ số ICOR giảm từ 6,4 xuống 4,5 - 4,8. Nhu cầu vốn giai đoạn 2026–2030 dự kiến tăng gấp 2,67 lần so với giai đoạn 2021–2025, đặt ra yêu cầu huy động nguồn lực rất lớn, nhất là nguồn vốn từ FDI.