Chỉ thị 15-CT/TW: Chủ động nhận diện, kiểm soát rủi ro, bảo đảm an ninh môi trường

Chỉ thị số 15-CT/TW, ngày 15/10/2026 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh môi trường trong thời kỳ phát triển mới của đất nước nêu rõ:

Để chủ động phòng ngừa, kiểm soát các nguy cơ, rủi ro, bảo đảm vững chắc an ninh môi trường, tạo nền tảng cho đất nước phát triển nhanh, bền vững, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nhằm: nâng cao năng lực dự báo, chủ động phòng ngừa rủi ro và tăng cường phối hợp giữa các cấp, các ngành trong bảo đảm an ninh môi trường.

anmt.jpg
Dọn vệ sinh môi trường biển. Ảnh: Tường Quân/TTXVN

An ninh môi trường gắn với an ninh quốc gia

Tiến sĩ Trần Ngọc Ngoạn, nguyên Viện trưởng Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) cho rằng, bảo đảm an ninh môi trường cần được đặt trong mối quan hệ với an ninh quốc gia, an ninh con người và phát triển bền vững. Rủi ro môi trường không chỉ gây ô nhiễm, suy giảm tài nguyên mà còn có thể ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh kế của người dân, hoạt động sản xuất và sự ổn định kinh tế - xã hội. Đáng chú ý, các tác động này có thể lan rộng qua nhiều địa bàn, lĩnh vực, khiến việc xử lý riêng lẻ từng vụ việc không đủ để kiểm soát toàn diện hậu quả. "Chẳng hạn, ô nhiễm nguồn nước tại một khu vực có thể ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất của người dân ở nhiều địa phương cùng lưu vực". Vì vậy, công tác quản lý cần vượt ra khỏi phạm vi địa giới hành chính, tăng cường chia sẻ thông tin và phối hợp giữa các địa phương, cơ quan liên quan. Việc xác định rõ nguồn gây ô nhiễm, phạm vi ảnh hưởng và trách nhiệm của từng chủ thể là cơ sở để kiểm soát rủi ro hiệu quả hơn.

Theo Tiến sĩ Trần Ngọc Ngoạn, từ yêu cầu chủ động phòng ngừa, việc quản lý môi trường cần chuyển trọng tâm từ xử lý hậu quả sang nhận diện, đánh giá và kiểm soát nguy cơ từ sớm. Các khu vực, lĩnh vực và cơ sở có nguy cơ cao cần được giám sát phù hợp với mức độ rủi ro; đồng thời phải có phương án cảnh báo, ứng phó khi xảy ra sự cố. Quá trình này đòi hỏi sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương và các chủ thể liên quan, gắn trách nhiệm phòng ngừa với trách nhiệm khắc phục hậu quả khi có vi phạm. Bên cạnh đó, dữ liệu môi trường cần được kết nối, cập nhật và khai thác hiệu quả để phục vụ dự báo, cảnh báo và quyết định quản lý. Thông tin chỉ phát huy tác dụng khi được chuyển đến đúng cơ quan, địa phương và gắn với phương án xử lý cụ thể. Vì vậy, nâng cao năng lực dự báo cần đi cùng việc phân định trách nhiệm cập nhật, chia sẻ dữ liệu và tổ chức ứng phó.

Do vậy, bảo đảm an ninh môi trường cũng đòi hỏi xem xét đầy đủ tác động môi trường trong quá trình hoạch định và triển khai các hoạt động phát triển. Việc nhận diện nguy cơ ngay từ đầu, giám sát trong quá trình thực hiện và xác định rõ trách nhiệm của các bên sẽ góp phần hạn chế thiệt hại, bảo vệ sức khỏe, sinh kế của người dân, đồng thời giảm nguy cơ phát sinh những vấn đề phức tạp về kinh tế - xã hội.

Quản trị rủi ro gắn với trách nhiệm và năng lực cạnh tranh

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Cự, Phó Giám đốc Trung tâm Kinh tế Môi trường (Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam) cho rằng, chuyển từ xử lý hậu quả sang chủ động phòng ngừa rủi ro môi trường đòi hỏi phải xác định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm, đồng thời tính đúng, tính đủ chi phí môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Khi chi phí này được phản ánh đầy đủ trong quyết định đầu tư, doanh nghiệp sẽ có động lực đổi mới công nghệ, tiết kiệm tài nguyên và giảm phát thải, thay vì để xã hội gánh chịu chi phí khắc phục ô nhiễm. Để thực hiện yêu cầu đó, cần vận dụng đồng bộ các công cụ kinh tế như thuế môi trường, phí phát thải, ký quỹ phục hồi môi trường, bồi thường thiệt hại và cơ chế khuyến khích đầu tư xanh.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Cự, chính sách cần bảo đảm tính minh bạch, khả thi, phù hợp với mức độ rủi ro và năng lực thực hiện, vừa tăng cường trách nhiệm bảo vệ môi trường, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ. Hiện nay yêu cầu chuyển đổi xanh cũng ngày càng gắn với khả năng duy trì thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm, doanh nghiệp phải quan tâm đến việc đo lường, báo cáo và minh bạch dữ liệu phát thải trong chuỗi cung ứng. Một ví dụ là Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU), bước vào giai đoạn thực thi chính thức từ ngày 1/1/2026. Cơ chế này áp dụng đối với một số nhóm hàng hóa thuộc các ngành như sắt thép, xi măng, nhôm, phân bón, điện và hydro. Theo quy định, nhà nhập khẩu thuộc diện điều chỉnh hoặc đại diện hải quan gián tiếp phải thực hiện các nghĩa vụ khai báo phát thải và chứng chỉ carbon. Do đó, dữ liệu phát thải của nhà sản xuất có thể ảnh hưởng đến chi phí và khả năng cạnh tranh của hàng hóa khi tham gia thị trường EU. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hạn chế về vốn, công nghệ và nhân lực khiến việc đáp ứng các yêu cầu mới trở thành thách thức đáng kể.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Cự cho rằng, chuyển đổi xanh cần được nhìn nhận là điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn, thay vì chỉ là chi phí tuân thủ. Nhà nước cần hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận tín dụng xanh, tư vấn công nghệ và thông tin về tiêu chuẩn quốc tế; doanh nghiệp cần chủ động kiểm kê phát thải, tiết kiệm năng lượng, đổi mới quy trình sản xuất và nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc. Tăng cường hợp tác quốc tế và tiếp cận công nghệ sạch cũng giúp doanh nghiệp thích ứng tốt hơn với yêu cầu thị trường và duy trì vị trí trong chuỗi cung ứng.

Bên cạnh các công cụ kinh tế và giải pháp chuyển đổi xanh, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm là yêu cầu quan trọng trong quản trị rủi ro môi trường; cần xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất, tích hợp thông tin về chất lượng môi trường, nguồn thải, tài nguyên, khí tượng thủy văn, sức khỏe cộng đồng và hoạt động sản xuất; đồng thời chuẩn hóa dữ liệu, cập nhật thường xuyên và phân định rõ trách nhiệm cung cấp, quản lý, chia sẻ thông tin. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ viễn thám và các mô hình kinh tế - môi trường có thể hỗ trợ dự báo xu hướng, xác định khu vực có nguy cơ cao và xây dựng phương án ứng phó. Hệ thống cảnh báo cần gắn với ngưỡng rủi ro và quy trình xử lý cụ thể, ưu tiên các khu công nghiệp, lưu vực sông và khu vực dễ bị tổn thương, bảo đảm thông tin được chuyển thành hành động kịp thời.

Thanh Hương - Diệu Thuý/TTXVN

Dành cho bạn

Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên môi trường số

Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên môi trường số

Tiếp tục Chương trình Kỳ họp thứ 2, sáng 28/10, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.