Chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng công nghiệp

Theo báo cáo của Cục Thống kê, kết quả tăng trưởng công nghiệp 10 tháng năm 2026 có đóng góp chủ yếu từ ngành chế biến, chế tạo là lĩnh vực giữ vai trò động lực dẫn dắt toàn ngành.

che-bien.jpg
Công ty TNHH Wistron Infocomm Việt Nam tại Khu công nghiệp Đồng Văn III . Ảnh minh họa: Nguyễn Chinh/TTXVN

Cụ thể, chỉ số sản xuất ngành này tăng 13% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 10,2 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Tiếp đến, ngành khai khoáng tăng 7,1%, đóng góp 1,1 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 10,6%, đóng góp 1 điểm phần trăm; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,2%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm.

Đáng chú ý, mức tăng trưởng của ngành chế biến, chế tạo không chỉ thể hiện ở quy mô chung mà còn được phản ánh qua nhiều lĩnh vực sản xuất trọng điểm.

Theo bà Phí Thị Hương Nga, Trưởng ban Thống kê công nghiệp và xây dựng, Cục Thống kê cho biết, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,4% trong 10 tháng năm 2026, mức cao nhất cùng kỳ giai đoạn 2019-2026, là tín hiệu tích cực đối với hoạt động sản xuất và tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trong những tháng cuối năm, cần tiếp tục củng cố động lực từ ngành chế biến, chế tạo, phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Đây là những yếu tố quan trọng để sản xuất công nghiệp không chỉ giữ vững tốc độ tăng trưởng cao mà còn nâng cao chất lượng và tính bền vững, đóng góp vào hoàn thành mục tiêu tăng trưởng 2 con số kế hoạch năm 2026.

Cụ thể, trong 10 tháng, một số ngành công nghiệp cấp II ghi nhận mức tăng cao như sản xuất kim loại tăng 25,6%; sản xuất đồ uống tăng 17,5%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 15,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 14,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 13,6%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 12,9%.

Những kết quả này cho thấy hoạt động sản xuất đang mở rộng ở nhiều nhóm ngành, đặc biệt là các lĩnh vực có tính liên kết chuỗi và khả năng tham gia sâu vào mạng lưới sản xuất công nghiệp. Tuy nhiên, mức tăng trưởng giữa các ngành vẫn có sự phân hóa. Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan chỉ tăng 4,3%, trong khi khai thác than cứng và than non giảm 0,6%. Điều này phản ánh những khó khăn nhất định về thị trường, đơn hàng và điều kiện sản xuất ở một số lĩnh vực.

Xét theo địa phương, chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2026 tăng tại 33 địa phương, trong khi Sơn La giảm 5% so với cùng kỳ năm trước. Theo Cục Thống kê, động lực tăng trưởng tại các địa phương chủ yếu đến từ sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và sản xuất, phân phối điện. Ngược lại, những địa phương có mức tăng thấp hoặc suy giảm chịu tác động từ hoạt động sản xuất chế biến, chế tạo, khai khoáng và sản xuất, phân phối điện tăng chậm hoặc giảm.

Điều này cho thấy tăng trưởng công nghiệp đang có độ lan tỏa tương đối rộng về không gian, song mức độ đóng góp giữa các địa phương chưa đồng đều. Việc phát huy lợi thế về hạ tầng, nguồn nhân lực, khả năng thu hút đầu tư và liên kết sản xuất sẽ tiếp tục là yếu tố quan trọng để các địa phương củng cố năng lực công nghiệp, đồng thời nâng cao tính bền vững của tăng trưởng.

Cục Thống kê cũng chỉ ra, nhiều mặt hàng công nghiệp chủ lực có mức tăng trưởng khá trong 10 tháng năm 2026; trong đó, máy tính bảng tăng 36,6%; xe máy tăng 26,8%; máy tính xách tay tăng 25,9%; ô tô tăng 25,1%; thép cán tăng 24%; thép thanh, thép góc và thủy hải sản chế biến cùng tăng 22,5%; đường kính tăng 18,9%; sắt, thép thô tăng 17%; bia tăng 14,6%.

Nổi bật, mức tăng của nhóm sản phẩm điện tử, máy tính và phương tiện vận tải cho thấy các lĩnh vực sản xuất có hàm lượng công nghệ và quy mô công nghiệp lớn tiếp tục duy trì vai trò quan trọng trong tăng trưởng. Đây cũng là những nhóm sản phẩm có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa đến các ngành công nghiệp hỗ trợ, logistics và dịch vụ liên quan.

Tuy nhiên, báo cáo của Cục Thống kê cũng chỉ ra không phải tất cả sản phẩm đều duy trì xu hướng tăng khi một số mặt hàng ghi nhận sản lượng giảm so với cùng kỳ năm trước như: bột ngọt giảm 6,7%; phân hỗn hợp NPK giảm 6,3%; tivi giảm 5,1% và khí hóa lỏng LPG giảm 4,9%.
Sự sụt giảm này cho thấy nhu cầu thị trường và triển vọng sản xuất giữa các nhóm hàng vẫn có những khác biệt, điều này đòi hỏi các doanh nghiệp cần tiếp tục chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất, quản trị chi phí và nâng cao khả năng thích ứng trong thời gian tới.

Việc mở rộng sản xuất, thị trường lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp cũng ghi nhận tín hiệu tích cực. Tại thời điểm ngày 1/10/2026, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 3,2% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, lao động ngành chế biến, chế tạo tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 3,4% so với cùng kỳ; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng tương ứng 0,2% và 1,8%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,2% và 3,9%.

Riêng ngành khai khoáng, lao động tăng 0,1% so với tháng trước nhưng giảm 2,3% so với cùng thời điểm năm trước, điều này cho thấy sự điều chỉnh về nhân lực vẫn diễn ra ở một số lĩnh vực.

Thúy Hiền/TTXVN

Dành cho bạn

Làm rõ khả năng cân đối vốn, tránh đội vốn khi đầu tư các tuyến cao tốc

Làm rõ khả năng cân đối vốn, tránh đội vốn khi đầu tư các tuyến cao tốc

Sáng 7/11, tiếp tục Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, thảo luận tại Tổ về chủ trương đầu tư 3 dự án đường bộ cao tốc gồm: Bảo Hà - Lai Châu, đoạn Bảo Hà - Tân Phong; Quảng Ngãi - Kon Tum và Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên, các đại biểu bày tỏ sự đồng tình với chủ trương đầu tư, đồng thời đề nghị làm rõ khả năng cân đối vốn, bảo đảm tiến độ và tăng cường trách nhiệm giám sát trong quá trình triển khai.

Người dân hào hứng trải nghiệm sống xanh tại TP Hồ Chí Minh

Người dân hào hứng trải nghiệm sống xanh tại TP Hồ Chí Minh

Sáng 7/11, đông người dân đến Công viên Phan Đình Phùng, TP Hồ Chí Minh tham gia Ngày hội Việt Nam Xanh 2026. Tại đây, người dân và du khách đã hào hứng tham gia hoạt động đổi rác tái chế nhận quà, khám phá các sản phẩm thân thiện môi trường để tiếp cận, xây dựng lối sống xanh.