Thưa đại biểu, dự thảo Luật sửa đổi lần này ghi nhận tinh thần cải cách rất lớn của Chính phủ khi kiến nghị cắt giảm khoảng 90% đối tượng phải thực hiện thủ tục đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và cấp giấy phép môi trường (GPMT), đồng thời phân cấp mạnh cho cấp tỉnh. Ông đánh giá như thế nào về những bước đột phá này?
Tôi cơ bản tán thành các nội dung sửa đổi của dự án Luật, đồng thời đánh giá cao tinh thần cải cách của Chính phủ khi kiến nghị cắt giảm mạnh mẽ các thủ tục tiền kiểm, dự kiến cắt giảm khoảng 90% đối tượng phải thực hiện thủ tục ĐTM, thủ tục cấp GPMT, cũng như thực hiện phân cấp mạnh mẽ thẩm quyền thẩm định báo cáo ĐTM và cấp GPMT cho cấp tỉnh. Những nội dung này hoàn toàn phù hợp với chủ trương cải cách hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, nhằm nâng cao trách nhiệm tự quyết và tự chịu trách nhiệm của địa phương.
Tuy nhiên, qua rà soát các quy định của luật này với các luật có liên quan, nhất là Luật Xây dựng, tôi thấy có một vấn đề mà cơ quan soạn thảo cũng cần nghiên cứu thêm.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật BVMT hiện hành, ĐTM do chủ dự án đầu tư tổ chức thực hiện đồng thời với quá trình lập báo cáo nghiên cứu khả thi. Kết quả ĐTM được thể hiện bằng báo cáo đánh giá tác động môi trường và được thẩm định theo thủ tục riêng. Việc thẩm định báo cáo ĐTM do Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoặc Chủ tịch UBND cấp tỉnh thực hiện (đây là nội dung được thể hiện tại dự thảo Nghị định quy định chi tiết Luật kèm theo).
Trong khi đó, theo quy định của Luật Xây dựng, nội dung báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng cũng đã có các nội dung liên quan đến bảo vệ môi trường như giải pháp tổ chức quản lý thực hiện dự án, vận hành, sử dụng công trình và bảo vệ môi trường; đánh giá tác động của dự án liên quan đến việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, tái định cư; bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái, an toàn trong xây dựng, phòng, chống cháy, nổ và các nội dung cần thiết khác. Tuy nhiên, việc thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi do Cơ quan chuyên môn về xây dựng là cơ quan được giao quản lý xây dựng thuộc Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành hoặc UBND cấp tỉnh thực hiện.
Như vậy, mặc dù có những nội dung trùng lặp nhưng do thẩm quyền thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi, báo cáo ĐTM là khác nhau và được thiết kế theo từng quy trình riêng biệt nên chủ đầu tư dự án gặp khá nhiều khó khăn, mất thêm chi phí tuân thủ và phần nào làm kéo dài thời gian chuẩn bị dự án một cách không cần thiết, nhất là trong trường hợp có sự thay đổi nội dung cụ thể trong hồ sơ dự án. Đây cũng là nút thắt trực tiếp ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân và môi trường đầu tư kinh doanh thời gian qua, được thể hiện rõ nét trong việc thực hiện các dự án thuộc một số lĩnh vực chuyên ngành như công nghiệp, năng lượng.
Dự thảo Luật hiện nay có bổ sung quy định cho phép cơ quan có thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính liên thông, nhưng có ý kiến cho rằng quy định này còn mang tính tùy nghi. Góc nhìn của ông về vấn đề này ra sao?
Dự thảo Luật có bổ sung quy định (tại khoản 2 Điều 35) theo hướng cơ quan có thẩm quyền thẩm định ĐTM có thể quyết định thực hiện liên thông các thủ tục hành chính nếu đồng thời là cơ quan giải quyết thủ tục khác. Tuy nhiên, quy định như vậy còn mang tính tùy nghi, chưa đủ bao quát và chưa giải quyết triệt để bất cập hiện nay. Việc liên thông có được thực hiện hay không lại phụ thuộc vào quyết định của từng cơ quan, địa phương. Bên cạnh đó, việc giao thẩm quyền không nhất quán giữa các cơ quan như Chủ tịch UBND hay UBND ở các luật khác nhau cũng khiến yêu cầu thống nhất đầu mối giải quyết trở nên không khả thi.
Để tháo gỡ điểm nghẽn này, tôi kiến nghị cơ quan chủ trì soạn thảo xem xét cải tiến mô hình thẩm định theo cơ chế một cửa tích hợp.
Cụ thể, cần thống nhất giao đầu mối tiếp nhận, chủ trì thẩm định hồ sơ giai đoạn chuẩn bị dự án cho Cơ quan chuyên môn về xây dựng theo Luật Xây dựng (gồm cơ quan quản lý xây dựng thuộc Bộ chuyên ngành hoặc UBND cấp tỉnh theo phân cấp). Chủ đầu tư sẽ không phải nộp hai bộ hồ sơ độc lập nữa, mà báo cáo ĐTM sẽ được tích hợp thành một cấu phần bắt buộc, đồng bộ về mặt số liệu đầu vào trong hồ sơ thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi.
Đối với các dự án thuộc thẩm quyền của Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành, các công trình xử lý và bảo vệ môi trường thực chất là bộ phận không tách rời của hạ tầng kỹ thuật và thiết bị sản xuất chính (công trình phụ trợ). Các cơ quan quản lý xây dựng thuộc Bộ chuyên ngành là đơn vị nắm rất rõ về công nghệ, quy trình sản xuất, do đó rất phù hợp để chủ trì thẩm định cả báo cáo nghiên cứu khả thi lẫn nội dung ĐTM. Trong quá trình này, cơ quan quản lý về môi trường thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tham gia với tư cách là cơ quan phản biện chuyên sâu về ĐTM.
Nếu áp dụng mô hình một cửa tích hợp này, vai trò quản lý nhà nước về môi trường sẽ được chuyển dịch như thế nào để vừa đảm bảo tiến độ dự án, vừa không làm giảm chất lượng bảo vệ môi trường, thưa đại biểu?
Khi áp dụng mô hình này, thời gian thẩm định sẽ được rút ngắn đáng kể trên cơ sở một hồ sơ chung. Về phía Bộ Nông nghiệp và Môi trường, thay vì phải chủ trì tiếp nhận và thẩm định ĐTM riêng biệt, cơ quan này sẽ chuyển trọng tâm sang việc ban hành hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường nghiêm ngặt, minh bạch.
Đồng thời, nguồn lực sẽ được tập trung tăng cường cho công tác hậu kiểm – tức là giám sát tự động bằng công nghệ và cấp Giấy phép môi trường ở giai đoạn vận hành. Cách làm này không những không làm giảm vai trò bảo vệ môi trường, mà còn góp phần cắt giảm khâu trung gian, khắc phục tình trạng nhà đầu tư phải "gõ cửa" nhiều cơ quan quản lý nhà nước, qua đó tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy tiến độ phê duyệt và triển khai các dự án đầu tư.
Trân trọng cảm ơn đại biểu!